“Gục ngã” trên đống tài sản
TT - Như Tuổi Trẻ từng đề cập, nhiều doanh nghiệp co cụm, phá sản
không chỉ do lãi suất quá cao mà còn do sức mua của thị trường quá thấp.
Hàng làm ra không bán được khiến doanh nghiệp “gục ngã” trên đống tài
sản.
Tình trạng này xảy ra ở nhiều lĩnh vực và dắt dây từ nhà sản xuất đến phân phối, bán lẻ...
Một
cửa hàng trên đường Lý Thường Kiệt (Q.Tân Bình, TP.HCM) do ế ẩm nên bị
tồn hàng tấn sắt thép, phần lớn trong số này đang bị gỉ sét - Ảnh: Đình
Dân
Hiện doanh nghiệp thép chỉ chạy 50-60% công suất thiết kế, thậm
chí có ít nhất sáu doanh nghiệp đã ngừng sản xuất do hàng bán không được.
Lượng hàng tồn kho ùn ứ khiến nhiều doanh nghiệp như
ngồi trên đống lửa, còn các đại lý nhập hàng về nhỏ giọt, nhiều đại lý
không cầm cự nổi phải bỏ nghề...
Sức mua giảm sâu
"Đây
có lẽ là năm bi kịch nhất đối với các doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp nặng, khi mọi thứ dường như đã nằm ngoài tầm kiểm
soát của doanh nghiệp, đặc biệt là kênh tiêu thụ ở thị trường
nội địa"
Ông ĐỖ DUY THÁI (tổng giám đốc Công ty cổ phần Thép Việt, Pomina)
|
Đã quá trưa nhưng tại một đại lý phân phối sắt, thép lớn có tiếng trên
đường Lý Thường Kiệt (TP.HCM) vẫn vắng hoe không một bóng khách. Đứng
trước đống sắt, thép tồn kho nhập về nhiều chủng loại như: Pomina, Việt
Nhật, Miền Nam... đang phủ bạt kín giữa kho, bà Trần Thị S. - chủ đại lý
- lắc đầu ngao ngán: “Ế ẩm quá! Mặc dù đã bước vào mùa xây dựng nhưng
sức mua vẫn giảm 30-40% so với năm ngoái. Năm ngoái lỗ nặng rồi, năm
nay còn nặng hơn năm ngoái!”.
Theo bà S., trước đây đại lý của bà mỗi lần nhập cả
ngàn tấn thép về kho để bán, “nhiều lúc bán không ngơi tay, nhưng
nay chỉ dám nhập nhỏ giọt khoảng 100 tấn để cho có hàng”, bà S. phân
trần. Đồng lời ít, bạn hàng lại trả tiền chậm khiến đại lý bà S.
rơi vào cảnh cầm cự từng ngày để nuôi nhân viên.
Ông Khang, người trông coi kho hàng rộng hơn 300m2
của bà S., phải dùng giẻ lau những lớp gỉ sét đóng trên những khối sắt
thép do “đắp chiếu” lâu ngày. “Tôi trông coi kho này từ năm 1990
nhưng chưa có thời điểm nào thê thảm như lúc này. Đến cả lượng người bốc
xếp của kho này trước có 15 người, nay không bán được chỉ còn lại ba
người mà có ngày cũng không có việc để làm”, ông Khang nói.
Tương tự, tại các đại lý, cửa hàng bán lẻ sắt, thép
trên đường Bạch Đằng (Q.Bình Thạnh), đường Lý Thường Kiệt (Q.Tân Bình),
đường Tô Hiến Thành (Q.10)... cũng hết sức ế ẩm, có khi cả tuần chỉ bán
lẻ được vài món hàng không đáng kể. Tại cửa hàng Thanh Thiên trên đường
Lý Thường Kiệt, không có khách nên dù đã gần 10g mà hai nhân viên bốc
xếp vẫn nằm ngủ trên xe.
Anh Yên, chủ cửa hàng, cho hay mấy ngày nay các nhân
viên điều tra thị trường “liên tiếp đến hỏi vì sao trước mỗi lần nhập
hàng về 20 tấn, giờ chỉ còn lại 10 tấn. Nhìn hàng chất đống không bán
được bị gỉ sét thì hiểu liền, đâu cần hỏi nữa!”. Còn các nhân viên
giao hàng của cửa hàng này cho biết ngày trước mỗi ngày chạy 2-3 chuyến
giao hàng thì nay mỗi tuần may ra được 1-2 chuyến.
Ximăng cũng cùng chung “số phận” với sắt thép.
Lượng mua quá ít khiến các đại lý phân phối ximăng của Hà Tiên 1, Sông
Gianh, Holcim, Nghi Sơn, Cẩm Phả, Hạ Long... đang phải “dở khóc dở
cười”.
Tại kho hàng của vựa ximăng Thành Long trên đường Vạn
Kiếp (Q.Phú Nhuận), bà Mai - chủ vựa - cho biết thời điểm này năm ngoái
một tuần bà có thể bán được 800 bao, “nhưng giờ bán được 35-40
bao/tuần”. Kho hàng vốn chứa được trên 2.000 bao ximăng của bà Mai giờ
rộng thênh thang, bà chỉ nhập hàng khi nào các công ty ximăng hạ
giá hoặc khuyến mãi.
Bà Phượng, chủ cửa hàng vật liệu xây dựng Loan Phượng,
từng phất lên trong ngành này, giờ chỉ biết nhìn những chiếc xe
chở hàng nằm xó trong kho cùng vài bao ximăng sót lại. “Từ năm
ngoái sức mua đã ế ẩm. Năm nay lại giảm thêm 40% so với trước thì
còn bán buôn gì”, bà Phượng chua xót.
Sáng bán vật liệu, chiều bán gà nướng
Kho
hàng của Công ty cổ phần Phương Nam (đường Phan Xích Long, Q.Phú Nhuận)
từng là nhà phân phối lớn của Ximăng Sông Gianh nay chỉ còn lại bãi đất
trống được bao kín tôn xanh. Cạnh đó, kho hàng của Công ty TNHH một
thành viên Ngọc Thanh chuyên bán ximăng của Vincent và Hà Tiên 1 cũng ảm
đạm không kém.
Cả
khu kho hàng rộng gần 200m2 của công ty giờ chỉ còn lại vài bao ximăng,
một ít gạch, cát. Phía ngoài cổng, chủ công ty phải rao bán chiếc xe
tải thường dùng để chuyên chở ximăng cho khách. Còn phía trong cổng là
nơi để chiếc xe đẩy bán khoai tây chiên, chân gà nướng của một người nhà
trong công ty.
“Sáng
thấy công ty bán vật liệu xây dựng, còn chiều thấy bán chân gà nướng,
khách đến ăn chân gà nướng thì nhiều mà đến mua vật liệu thì không
thấy!”, một người dân ở đây cho biết.
|
Hàng “ăn theo” kín lối ra
“Ăn theo” ngành vật liệu xây dựng, ngành hàng
trang trí nội thất cũng bị vạ lây. Chỉ vào đống bàn ghế, tủ bếp
bày ra từ ngày này sang ngày khác, bà Thu - chủ cửa hàng trên
đường Trường Chinh (Q.Tân Bình) - ngao ngán nói: “Cả ngày lượng khách
đến chỉ đếm trên đầu ngón tay, hầu hết chỉ đi một vòng, hỏi giá sau đó
lẳng lặng bỏ đi. Nguyên tháng 3 chúng tôi bán được ba bộ bàn ghế, không
đủ trả tiền mặt bằng, lương nhân viên”.
Sức mua mặt hàng này hiện đã giảm hơn 50% so với cùng kỳ năm ngoái.
Các chủ cửa hàng nội thất trên đường Ngô Gia Tự (Q.10),
Cộng Hòa (Q.Tân Bình)... cũng cho biết tình trạng buôn bán ế ẩm chưa
từng thấy. Nhiều cửa hàng treo biển giảm giá 10-30% nhưng khách chẳng
đoái hoài. Ông Nguyễn Văn Chương, giám đốc Công ty TNHH B.A
(Boutique-Art) - doanh nghiệp hiện có ba showroom tại TP.HCM, Bà Rịa -
Vũng Tàu, cũng đang hết sức mệt mỏi với lượng hàng tồn kho.
“Chúng tôi hiện có khoảng bốn kho với tổng diện tích
trên 2.000m2 để chứa trữ hàng hóa, nhưng thời gian tới có lẽ phải thuê
thêm một kho hàng tại Q.7 nữa để chứa... hàng tồn”.
Sức mua các sản phẩm xây dựng hoàn thiện khác (gạch men, đèn treo tường, giấy dán tường, dây cáp điện...) cũng khựng lại.
Anh Tấn, chủ cửa hàng số 711 Lý Thường Kiệt (Q.Tân
Bình), cho biết trước đây ngày nào cũng nhập hàng, giờ 1-2 tuần mới dám
nhập về, mà lượng hàng mỗi lần nhập cũng giảm 30%. Từ cuối năm ngoái cửa
hàng đã phải giảm giá các mặt hàng dây cáp xuống 10%, kèm thêm dịch vụ
giao hàng tận nhà nhưng khách vẫn đìu hiu.
Ngoài tầm kiểm soát
Theo tài liệu chúng tôi có được, số doanh nghiệp
trong Hiệp hội Thép VN (VSA) có lượng thép tồn kho từ vài chục
lên đến cả trăm ngàn tấn hiện có mấy chục doanh nghiệp, chủ yếu
là các doanh nghiệp giữ thị phần chi phối trên thị trường.
Lượng hàng bán ra của các doanh nghiệp cứ giảm dần đều từ
đầu năm 2012 đến nay, đẩy lượng hàng tồn ngày một chồng chất.
Rất nhiều doanh nghiệp thép chỉ chạy 50-60% công suất thiết kế,
thậm chí có ít nhất sáu doanh nghiệp đã ngừng sản xuất do hàng
bán không được.
Ông Đ., chủ tịch HĐQT một doanh nghiệp quy mô lớn
tại TP.HCM, thừa nhận lượng thép tồn kho của ông hiện xấp xỉ
200.000 tấn. “Nếu trong bối cảnh thị trường bình thường, mức
tồn kho nói trên là chấp nhận được. Nhưng ở hoàn cảnh hiện
tại, đây là một mức... khó sống!”, ông Đ. thừa nhận. Nếu chỉ
cần lấy giá nguyên liệu là 470 USD cho mỗi tấn thép, số tiền
“chết” trong kho đã xấp xỉ 100 triệu USD”.
“Số tiền này nhân thêm lãi suất vay ngân hàng,
cộng thêm chi phí vận hành nhà máy, chi trả nhân công thì mở
mắt ra tôi đã bị “bốc hơi” cả chục tỉ đồng/ngày” - ông Đ. ngậm
ngùi.
Tổng giám đốc Công ty cổ phần ximăng C còn chua
chát hơn khi cho rằng “thị trường ximăng đang quẫy đạp giành nhau
sự sống vì ai cũng sắp chết cả rồi!”. Theo ông này, hầu hết
doanh nghiệp sản xuất đều tung ra mức chiết khấu “khủng” nhất
từ trước đến nay, kèm theo một loạt khuyến mãi mua 100 bao tặng
9-13 bao (tùy hãng) từ nhiều tháng qua nhưng sức mua vẫn thấp.
Ghi nhận của Tổng công ty Công nghiệp ximăng VN
(Vicem) cũng cho thấy sản lượng clinker lẫn ximăng bột của các
doanh nghiệp thành viên đều rơi vào mức âm, trong khi lượng ximăng
tiêu thụ cũng chỉ bằng 74% so với cùng kỳ năm ngoái. Dù không
xác nhận bằng văn bản chính thức, nhưng nhiều nguồn tin cho biết
số doanh nghiệp sản xuất ximăng lỗ hàng ngàn tỉ đồng “rất
nhiều”, đặc biệt là các doanh nghiệp mới đầu tư thêm dây chuyền
sản xuất phải trả lãi vay chất chồng.
ĐÌNH DÂN - TRẦN VŨ NGHI - LÊ SƠN
(còn tiếp)
Nhiều mặt hàng tồn kho trên 50%
Theo Bộ Công thương, trong quý 1-2012, ngành công
nghiệp chế biến vẫn là ngành gặp nhiều khó khăn nhất, chỉ số sản xuất ba
tháng đầu năm của ngành này thấp hơn nhiều so với mức tăng 13,4% của
cùng kỳ năm trước.
Đáng ngại là một số mặt hàng có chỉ số tồn kho rất cao,
chỉ tiêu thụ, bán được chưa đến một nửa tổng lượng hàng đã sản xuất.
Điều này sẽ gây khó trong thu hồi vốn, tiếp tục sản xuất của doanh
nghiệp.
Theo báo cáo của Bộ Công thương, những nhóm hàng có chỉ
số tiêu thụ giảm mạnh là nhóm sản xuất: đồ uống không cồn, giấy nhăn và
bao bì, sắt thép, ximăng, các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, dây điện và
cáp điện...
Đến thời điểm 1-3, lượng tồn kho của phân bón và hợp
chất nitơ tăng tới 62,7%; sắt, thép tăng 59,1%; bia và mạch nha tăng
48%; cáp điện và dây điện có bọc cách điện tăng 29%; sợi và dệt vải tăng
6,6%; đồ uống không cồn tăng 11% (so với cùng kỳ năm trước)...
C.V.KÌNH