Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Nguyễn Tuân với Huế
15:10 | 24/11/2011
Một số anh chị em ở Huế biết tôi có ghi chép được ít nhiều về Nguyễn Tuân, bảo tôi viết lại và gửi cho Tạp chí Sông Hương. Riêng tôi, muốn tạo một dịp để anh Nguyễn nói trực tiếp với bạn đọc Sông Hương, nên xin được hỏi anh Nguyễn chung quanh chuyện Huế, được anh Nguyễn nhận lời, tôi xin trung thành ghi lại toàn bộ cuộc trò chuyện đó.
Nguyễn Tuân với Huế
Nhà văn Nguyễn Tuân - Ảnh: Thế Hùng
[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 HỎI: Thưa Anh, trong tác phẩm của anh người đọc bắt gặp thấp thoáng nhiều ngôn ngữ, thậm chí cốt cách Huế, xin anh nói cho đôi điều về hiện tượng đó.

ĐÁP: Tôi cứ vấn vương với Huế vì đã có nhiều thời kỳ sống ở Huế. Hồi nhỏ tôi đã ở Huế, thầy tôi làm ký lục ở Tam tòa, nhà bên Gia Hội. Thầy tôi hay đi đây đi đó đi đò trên Sông, lên Tuần, về chợ Dinh... lúc nào cũng dắt tôi đi theo ; thế là những hình ảnh điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ, chùa Diệu Đế bốn lầu ba chuông nhập vào mình lúc nào không biết.

Xin lộ một điều này nữa: Ông nội tôi có mấy bà, trong đó có một bà người Huế. Thầy tôi, Cụ Tú Hải Văn, chính là con bà Huế đó. Như vậy, Huế là quê ngoại của thầy tôi. Chắc là tôi có được thừa hưởng ít nhiều máu Huế đó.

(Bỗng Nguyễn Tuân gật gù hóm hỉnh) Bây giờ, sau trận chảy máu dạ đày suýt chết vừa rồi, được bệnh viện Việt-Xô chuyền cho ba lít máu, không hiểu tôi được thừa hưởng thêm dòng máu và tính nết tốt đẹp của những ai đây?

Thầy tôi lại còn đèo bòng thêm một bà Huế. Vì vậy, sau này về hưu, thỉnh thoảng thầy tôi vẫn trở lại Huế và thường dẫn tôi theo. Tôi còn bé nhưng dường như cũng có thông đồng với ông cụ về chuyện này. Tôi hiểu được đôi nét ứng xử tinh vi, tế nhị của người Huế một phần là thông qua những nhận xét của thầy tôi.

Có lần ăn cơm nhà bà Huế, bố con tôi được bà thết một “bữa cơm muối”, tôi nhớ đúng là có mười hai đĩa muối: muối tiêu, muối ớt, muối mè, muối đậu phụng, muối sả, muối riềng, muối khuyết khô... Khi ra về, ông cụ bảo: Bà ấy nhắc khéo là bà ta hết tiền rồi đấy. (Tôi nhớ là chi tiết này Nguyễn Tuân đã viết trong bài “Nhớ Huế”, năm Mậu Thân. Đúng là Huế đã để lại trong Nguyễn Tuân những dư vị khó quên như vậy. Nguyễn Tuân lại nói sang những nhận xét của anh về Huế). Người Huế có cái kiểu complexe lạ lắm. Chị cũng là người hoàng phái, tôi kể cho chị nghe câu chuyện của các “mệ” (Nguyễn Tuân dừng lại một lúc khá lâu, như để hồi tưởng lại kỷ niệm cũ, sau khi nhấp một ngụm rượu anh kể, không, phải nói là anh diễn lại) Mệ đến hiệu thợ may, lân la một hồi rồi lấy cắp cái quần. Anh thợ may trông thấy nhưng sợ uy mệ không dám nói ngay, khi mệ ra về, tiếc của, anh thợ may chạy theo ra gãi đầu gãi tai và rụt rè thưa: (Đến đây, Nguyễn Tuân chuyển sang giọng Huế, nhiều lần anh nhắc cho tôi nhớ anh đã từng là diễn viên thì ở đây cái tài nghệ diễn viên của anh đã được bộc lộ một cách sắc sảo. Anh diễn lại đoạn đối thoại này bằng cả động tác và ngôn ngữ của người trong cuộc, đặc biệt là điệu bộ và giọng nói của mệ, tiếc là tôi không đủ khả năng để thể hiện lại đúng được hết hoạt cảnh này).

- Dạ, thưa mệ...

Mệ trợn mắt, quát to, dồn dập:

- Chi? Mi xin cái chi? răng không nói ngay, mi xin cái chi? hứ?

Anh thợ may nhỏ nhẹ, rụt rè:

- Dạ, khi hồi... mệ có khuấy chơi cái quần... dạ, mệ cho con xin.

Mệ tỉnh khô và phản công tiếp:

- Có rứa thôi mà mi mở miệng không ra, cứ dạ với thưa hoài làm tau bắt mệt!... Bây ngu lắm! Răng tau lấy trước mắt bây mà bây không biết hứ!... Đây, mệ cho! lần sau mà cứ như rứa là mệ chém ba cái đầu nghe!

(Và anh Nguyễn Tuân đưa ra lời bình) Ghê chưa! Từ một complexe d'inferiorité(1), mệ chuyển ngay thành một complexe de superiorité (2) một cách thông minh, láu lỉnh. Giá bây giờ khoa học có cách chi tiêm thuốc mà giữ cho sống mãi được thì phải tiêm mà giữ lại vài mệ như rứa để đưa vào bảo tàng thằng người cũ!

HỎI: Sau này, khi viết văn, làm báo, anh vẫn thường vô ra Huế?

ĐÁP: Hồi xưa tàu hỏa tốc hành Hà Nội - Sài Gòn chỉ mất 48 tiếng, tức hai ngày hai đêm tròn. Về sau, nó rút xuống còn 40 tiếng. Hễ buồn tình là tôi lại xách cái cặp da, trong chỉ có mỗi bộ pyjama, chống cái ba-toong là lên tàu đi thôi. Hồi đó chưa đau chân, cầm ba-toong là một lối chưng diện kiểu công tử ăn chơi. Đi Sài gòn tôi hay ghé Huế vì Huế ở trung độ. Tổ chức tàu bè hồi đó cũng thuận tiện. Anh cứ mua vé Hà Nội-Sài Gòn, qua Huế anh muốn xuống cứ việc xuống, anh vào ga đóng cái dấu, thế là khi cần đi tiếp thì cứ thế lên tàu mà đi. Có khi tưởng ghé lại chơi một hai ngày, tôi ở lại hàng tháng. Đôi khi cũng chả cần mua vé, đi lại nhiều như mình, cứ tiền mua vé cũng đủ chết. Tôi làm quen với nhiều bạn xe lửa. Khi thích đi thì tìm hỏi xem ngày nào bạn mình đến phiên trực tàu, cứ thế theo bạn lên tàu mà đi cùng cả nước!

HỎI: Xin anh kể lại một vài kỷ niệm về Huế hồi đó.

ĐÁP: Một lần tôi làm phóng viên cho Trung Bắc Tân Văn vào dự lễ Nam Giao. Cũng mặc áo đen, đội khăn đóng, đi dày hạ lên đàn xem tế. Chắc Chị cũng biết ngày hội Nam Giao đối với Huế là như thế nào. Mấy anh nhà hàng được một dịp xoay dân tứ xứ về xem hội tế. Ngày đó, tôi ở khách sạn Hương Giang gần chợ Đông Ba. Nước Sông Hương trong vắt, thiếu chi, rứa mà sáng ra, lấy cốc nước đánh răng, chủ khách sạn là Tôn Thất Đề tính tôi hai giác. Tôi hỏi: Tính toán kiểu chi mà kỳ cục rứa? Hắn tỉnh khô: - Dạ bẩm quan, là ngày tế Nam Giao! (Những đoạn đối thoại với người Huế này anh Nguyễn nói giọng Huế rất trúng kiểu Huế).

Kỷ niệm trên sông Hương thì nhiều lắm. Có khi trong túi không có tiền nhưng cứ chiều chiều là vào khách sạn Morin ngồi uống rượu. Cứ ngồi đó, gọi bồi thật dõng dạc, vừa uống, vừa chờ, thế nào cũng có vài thằng bạn kéo đến, anh nào có tiền, hôm ấy phải bao. Tối, tất cả rủ nhau xuống đò, xuôi về rạp hát Bà Tuần. Tôi đi thẳng vào sau cánh gà tìm cô Ba Vĩnh, cô đào nhất của rạp hát Bà Tuần. Cô Ba đưa ra ít tiền lẻ, tôi dắt túi, rồi đàng hoàng ra ngồi ở hàng ghế hạng nhất, trước cái trống chầu, sắp đến giờ hát, người hầu bưng ra cái khay trên để dùi trống, quan chơi sang là phải cho tiền rồi mới cần chầu. Tan buổi hát ở rạp Bà Tuần, lại rủ cô Ba Vĩnh xuống đò, lại giong ra giữa dòng Hương giang đàn hát suốt đêm. Đêm trên sông Hương có nhiều thuyền bán quà bánh. Một chiếc thuyền con, trước mũi treo ngọn đèn đỏ, cô lái đò hai tay thoăn thoắt bơi chèo, miệng rao lảnh lót: nem nướng, chè thịt quay, chè cá thu, dấm nuốt… Có khi các quan không có đồng nào vẫn gọi thuyền quà đến, chén xong, đuổi: - Thôi đi đi, mai trả!

Đó cũng là một kiểu, sống “bụi đời” bô-hê-miêng, chứ chi nữa?

Đò trên sông Hương cũng là một thứ khách sạn nổi. Có lần tôi sống hàng tháng trời dưới những khách sạn nổi ấy. Ngồi dưới đò viết feuilletons gửi từng kỳ ra tuần báo ngoài Hà Nội, rồi lại ra bưu điện săn đón mandat nhuận bút. Một phần của Thiếu quê hương được viết dưới đò Huế. Một số truyện trong Vang bóng một thời lấy cảnh sinh hoạt ở Huế có khi tên nhân vật cũng là tên một số người quen nổi tiếng ở Huế. Có lần mình sống dưới đò lâu quá, cụ lái muốn vòi thêm tiền lại thưa: Bẩm quan, đến hạn phải hui đò(3). Thế là lại phải đưa thêm tiền cho cụ lái không thì cụ buộc phải lên bờ thật.

Sống ở Huế, ra vô nhiều lần với Huế rồi thì lời ăn tiếng nói, cách xưng hô, ứng xử của Huế cứ vào mình lúc nào không biết. Lối xưng hô của Huế cũng có cái khác lạ làm tôi chú ý. Trước hết là cách xưng hô của các “mệ”, đàn ông cũng xưng mệ. Mình làm báo, người ta gọi là “quan tham nhật trình”, lại có quan tham lục lộ, quan thương, quan thị... Lại từ “cụ” mới rầy rà chứ: Cụ thượng, cụ tuần, cụ lái, cụ xe...

Thầy tôi, cụ Tú Hải Văn, có làm mấy câu thơ vui về cụ lái, cụ xe ấy:

Ối cụ xe ơi cụ lái ơi.
Xa nhau nhắn nhủ một đôi lời.
Con đường lục bộ sông Hương Thủy
Mấy kẻ đi về, kẻ ngược xuôi.

***
Dã viên cây cỏ chiều êm gió
lăng tạ lâu đài lúc tạnh mưa
Con sông có nhớ ta chăng?
Ta về ta nhớ cái thằng đò đưa

HỎI: Nghe chuyện Anh, và đọc tác phẩm của anh, mặc dù anh luôn tự hào tự phê phán, thậm chí có lúc tự phủi nhận cái quá khứ của mình, nhưng tôi vẫn cứ cảm thấy Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng vẫn là một. Hay nói cách khác việc anh tham gia cách mạng như là một điều tự nhiên hay tất yếu. Theo anh cảm nghĩ đó có đúng được phần nào không?

ĐÁP: Trước 1945, tôi không hề biết gì về cách mạng. Ngày ta đánh chiếm Phủ Khâm Sai tôi còn khăn đóng, áo đen “đi xem”! Hồi học năm thứ tư ở Collège Carreau Nam Định, bị bọn giáo viên tây đầm sà-lù, mẹc, xúc phạm đến tinh thần dân tộc của mình, tôi hô hào bãi khóa - bị tù. Phải nói rằng việc làm đó là một sự bột phát, nó cũng là do cái máu nổi loạn trong người mình chứ chưa phải do giác ngộ cách mạng gì cả.

Năm 1941 diễn ra cuộc tranh cãi sôi nổi giữa phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, tôi vẫn còn theo phái vị nghệ thuật. (Nguyễn Tuân lại nhắp một ngụm rượu và gật gù hóm hĩnh) Mình phải nhận cái tội của mình như thế.

Đến Kháng chiến Nam Bộ, Hội văn hóa cứu quốc tổ chức một đoàn văn nghệ sĩ vào mặt trận khu 5, đoàn gồm có Nguyên Hồng, Sĩ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Đình Lạp và tôi. Anh Trần Huy Liệu đưa cho mỗi người một nghìn đồng tiền Cụ Hồ. Khi cầm tiền tôi hỏi anh Liệu: - Như thế này là tôi phải viết mấy bài? Ấy cái tính của tôi nó cứ hay sục sặc như vậy! Thế là mình cà khịa với cách mạng chứ gì nữa? May sao anh Liệu lại tỏ ra rất thoải mái. Anh cười và bảo: Anh cứ cầm lấy mà tiêu còn có viết hay không là tùy, thích thì viết không thích thì thôi.

Trước lúc lên đường, ông Tố Hữu lại đưa thêm một nghìn nữa. Tôi từ chối và nói: Anh Liệu đưa cho rồi. Anh Lành trả lời: Số tiền này anh đưa về cho chị và các cháu. Sự thật tôi đã không đưa đồng nào về cho vợ con mà mang theo cả vào mặt trận Khánh Hòa - Phú Yên.

Tôi kể một vài chi tiết nho nhỏ ấy để nói rằng chính những thái độ ưu ái, cởi mở ấy của ông Tố Hữu và ông Trần Huy Liệu là những yếu tố thêm vào cho mình dứt khoát đi với cách mạng và chuyển hẳn sang quan điểm vị nhân sinh.

Từ mặt trận Khánh Hòa trở về, tôi ghé Huế để nói chuyện chiến đấu ở mặt trận với đồng bào. Huế dưới mắt tôi lúc này đã có nhiều đổi mới. Những cô gái Huế trước đây mặc áo tím, đội nón bài thơ thì bây giờ là những cô nữ tự vệ thành phố, mặc áo ka ki, cắt tóc ngắn, đội mũ ca-lô. Trên các đường phố học sinh, các bà bán chợ Đông Ba, các cụ xe, cụ lái... rầm rập đi biểu tình ủng hộ Nam Bộ kháng chiến và đây đó các cô nữ du kích áo quần bà ba đen, tập côn tập kiếm, múa rất dẻo.

Đoàn tôi về đến Thanh Hóa thì ta phá đường tàu, tiêu thổ kháng chiến. Lúc này, ông Đặng Thai Mai tập hợp anh em văn nghệ sĩ để hoạt động kháng chiến, ông Tố Hữu cũng về đó. Tôi theo đoàn kịch “Tiền Tuyến” đi biểu diễn khắp khu IV.

Hồi vỡ mặt trận Huế, người Huế tản cư ra khu IV đông lắm. Đi biểu diễn, tôi thường gặp gỡ các gia đình Huế này để trò chuyện. Tôi lại xin kể về một nhân vật Huế: tôi kể về chuyện quan thương làm cách mạng (quan thương tá hiệp thương giữa nam triều và bảo hộ tên là Hoàng Phùng). Quan Thương tản cư ra khu IV, ngồi tán gẫu với bọn tôi, quan nói trạng. (Nguyễn Tuân lại bắt chước giọng Huế của Quan Thương và thái độ sừng sộ, làm phách của một ông công chức cũ để diễn lại chuyện này. Nhiều lần Nguyễn Tuân đã viết về chuyện mình từng là diễn viên điện ảnh. Giá lúc này có băng vi-đê-ô cát-xét mà ghi lại thì mới hiện lên hết cái hay của giọng Huế mình qua “diễn xuất” của Nguyễn Tuân).

- Chừ các anh làm cách mạng sướng như tiên, chứ cứ nghĩ lại cái thời của tụi tui, ui chao, hắn cực cách chi là cực! Tui làm ở tòa công sứ Thanh Hóa. Cứ nguyên cái chuyện phải đến sở đúng giờ phăm phắp là đã làm mình bắt mệt rồi rứa mà có hôm cái thằng công sứ, hắn bực cái chuyện chi mô ở nhà, đến sở hắn cứ xà lù mẹc nhắng cả lên. Tui mới bỏ ra khỏi phòng, đóng cửa đánh cái rầm! Nghĩ đi nghĩ lại tui vẫn chưa hết tức, quay vào nhìn thẳng vào mặt nó tui uấy me-xừ lơ Rê-di-đăng! (le Résident) lại đóng cửa đánh cái rầm to rồi bỏ đi thẳng. Rứa mà ngày hôm sau, sở mật thám hắn đã biết rồi đó! Có mệt không?

HỎI: Người ta nói anh có ăn tết ở Huế? Có cái Tết nào đáng ghi nhớ xin anh kể lại với bạn đọc Sông Hương.

ĐÁP: Hồi tôi theo Cha tôi vào Huế cứ sắp đến Tết là bà cụ lại vào đón cậu con trai đầu lòng trở về Hà Nội. Không bao giờ cụ bà chịu để tôi ăn Tết ở Huế cùng với ông cụ. Cụ làm điều đó để chứng tỏ quyền lực của cụ đối với gia đình, nhưng có lúc làm mình đến khổ. Có năm, ngày 30 Tết vẫn còn lềnh đềnh dọc đường, tôi có viết ở đâu đó về một cái Tết ở ngoài nhà mình thì coi như không có Tết. (Ngẫm nghĩ một lúc, anh Nguyễn nói tiếp): Tôi kể cho chị nghe về một cái Tết Tây. Bây giờ nghĩ lại cũng hay, nhưng lúc đó thì không phải như thế! (Anh Nguyễn lại cười hóm hỉnh).

Cách đây đúng 44 năm. Có thể nói tính từng năm, từng tháng, từng ngày và nếu không ngoa thì có thể từng giờ. Vì cũng đúng cái chiều hôm nay (chiều hôm ấy lúc tôi ngồi hỏi chuyện tại nhà anh Nguyễn là chiều 31-12-1985) một người lính tập giải tôi từ Sở mật thám Nam Định lên Hà Nội, đến đây là vừa đúng hết năm tây 1941. Mình đi bộ theo người lính tập, thấy xung quanh mọi người đạp xe mang hoa đến sở Tây để biếu các sếp. Tối nó ký tôi vào Hỏa lò. Sáng hôm sau, đúng Tết Tây, người lính tập lại áp giải tôi đi tù, đi bộ qua thị xã Hòa Bình, qua Vụ Bản rồi lên Nho Quan. Cũng chuyến đi căng ấy, có rất đông nhóm “Ngày nay”, họ đi bằng ô tô.

Thế là được ăn một cái Tết tây trên đường đi căng cùng với một anh lính tập! Bây giờ thì có thể uống rượu mà nhớ lại cái kỷ niệm ấy và coi như một chuyện vui chứ gì nữa! (Lúc này, anh Tô Hoài, vừa đi họp với đại biểu nhân dân Thủ đô để báo cáo về cuộc họp Quốc Hội, ghé vào. Chị Tuân mang ra một đĩa lòng gà mới luộc đang bốc khói. Anh Nguyễn mời anh Tô Hoài cạn chén rượu, còn tôi thì được uống bia.

Tôi vẫn còn muốn khai thác tiếp nên trong lúc những người uống rượu uống tiếp thì tôi vẫn tiếp tục hỏi)

HỎI: Một nhà văn chuyên nghiệp thường có ba việc chính là đi, đọc, viết. Vậy xin Anh cho biết cụ thể ở anh công việc đó được tiến hành như thế nào? Ở Anh hình như việc viết văn làm báo cũng không tách rời nhau bao nhiêu?

ĐÁP: Đúng là cái nghề viết văn cũng chỉ quanh quẩn ở ba việc: Đọc, đọc sách của nước mình và phải đọc nhiều của nước ngoài, phải đọc cả Đông, Tây, Kim, Cổ. Còn đi thì đối với tôi, người ta đã coi như một cái bệnh - bệnh xê dịch. Trong nước tôi đã đi khắp, lên đến chóp Lũng Cú. Cao nhất là đỉnh Phăng-xi păng cũng đã leo đến nơi rồi, nhưng còn mũi Cà Mau thì chưa ra tới. Hồi chưa giải phóng có về đến thị xã Minh Hải nhưng đò giang khó khăn, tôi chưa ra được đến đất mũi. Chính ra, nhà văn cần phải đi rộng nữa ra cả thế giới, đi theo kiểu đi du lịch cơ. Tôi cũng vào loại được đi ra nước ngoài nhiều nhưng chỉ đi họp hành, tham quan, nghỉ mát đó chưa phải lối đi hay nhất của nhà văn. Còn việc viết là tất nhiên rồi. Có khi cả ba việc cùng làm được, có khi chỉ làm hai việc và có lúc chỉ làm một việc. Tôi nhớ, tôi có viết một câu như thế này: “Đi để mà viết, viết để lấy cái mà đi, có đồng nào cho đi hết!” (Anh Nguyễn lại chậm rãi châm thuốc lào và rít một hơi rõ kêu. Tôi cứ tưởng anh chỉ nói thế, định hỏi thêm thì anh như sực nhớ lại, từ tốn kể tiếp)

Hồi ở tù về, bà cụ muốn giữ chân mình ở nhà, mới lấy cho bát họ để mở hiệu sách. Tôi làm đại lý cho các báo: Trung Bắc Tân Văn, Thanh Nghệ Tĩnh, Tiểu thuyết thứ bẩy... và cũng làm luôn chân thông tin viên cho các báo. Cứ mỗi tin của tôi đăng ở trang nhất thì Trung Bắc Tân Văn trả cho hai xu một dòng, đăng ở các trang sau thì cứ hai dòng một xu (hồi đó một bát phở giá hai xu).

Tôi nhận viết cho nhiều báo; dần dần viết truyện feuilleton rồi nhận một chuyên mục cho tạp chí Tao Đàn, số nào cũng phải có một bài. Chính viết những bài cho chuyên mục Vang và bóng một thời ở Tao Đàn sau này tập hợp lại thành sách, bỏ chữ và đi thành Vang bóng một thời. Truyện ngắn đầu tiên của tôi đăng ở báo Đông Tây của Hoàng Tích Chu lấy tên là “Bể hoạn bao giờ bằng lấp” nhằm chửi bọn quan lại. Cái tên nghe rất biền ngẫu vậy mà Hoàng Tích Chu đã trả tôi ba mươi đồng nhuận bút về cái truyện ngắn đó. Chả là hồi này Hoàng Tích Chu mới ở Pháp về, muốn khuyến khích thể văn xuôi mới để chống lại lối văn phú lục (hồi đó ăn cơm tháng thật sang chỉ mất 3đ5 một tháng: một bộ complet bình thường giá 25đ).

Đối với tôi việc làm báo và viết văn luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ, có khi nó là một. Tất nhiên báo chí đòi hỏi tính kịp thời, chất thông tấn, nhưng bài báo hay, có tính nghệ thuật mới đi vào lòng người được. Người làm báo cũng đòi hỏi phải hiểu biết rộng. Anh mà có nhiều tích lũy, có vốn hiểu biết về văn hóa và đời sống sâu sắc phong phú thì anh càng ứng phó nhậy bén đối với tình hình và viết bài sắc sảo. Lao động nghệ thuật là sự đánh nhau với chữ nghĩa nhưng anh phải tích lũy, phải lao động như thế nào để khi viết ra người đọc cảm thấy nhẹ nhàng. Phải tỏ rõ được sự hàm dưỡng trong bài văn của mình. Đừng lộ cho người đọc thấy mình phải thở hồng hộc, bở hơi tai ra. Đúng là mình phải bở hơi tai làm việc cật lực, nhưng để đem đến cho người đọc một bài văn nhẹ nhàng, thanh thoát. Đọc xong bài văn, câu hết chữ rồi, nhưng ý vẫn còn dư.

HỎI: Xin anh cho một vài lời khuyên đối với người viết trẻ?

ĐÁP: - Phải đọc nhiều. Đi thực tế là cần thiết nhưng chưa phải là đủ. Phải đọc nhiều đọc rộng thì mới có kiến thức để lý giải những điều mình thấy. Theo tôi vốn đọc sách cũng là một nguồn thực tế. Đó là một cách tích lũy thực tế qua kinh nghiệm của người khác.

- Về viết thì tôi muốn nhắc lại lời của hai nhà văn (tôi quên tên) nhưng tôi luôn cố gắng làm theo lời của hai nhà văn đó:

Một người nói rằng: Anh phải viết như thế nào để khi người ta đọc đi đọc lại thật kỹ vẫn thấy không thể thêm vào được một chữ nào.

Nhà văn nói câu sau này tôi cho là đáng sợ hơn: Anh phải viết như thế nào để khi người ta đọc đi đọc lại thật kỹ vẫn thấy không thể bớt đi được chữ nào.

- Về sống: Nhà văn trước hết phải trung thực.

HỎI: Được biết anh thường theo dõi và đọc Tạp chí Sông Hương khá đều đặn. Anh có nhận xét gì về Tạp chí này?

ĐÁP: Ngoài Hà Nội và một số báo ở thành phố Hồ Chí Minh, Sông Hương là tờ tạp chí hay - có nội dung mới, súc tích chịu chấp nhận nhiều phong cách và trình bầy đẹp. Việc in phụ bản đầu kỳ là một cố gắng lớn của anh em làm tạp chí. Tôi biết đó là việc làm tốn kém và mất nhiều công phu, nhưng nó làm cho tờ Tạp chí sang trọng lên nhiều lắm. Tôi rất thích những tranh phụ bản của Phạm Đăng Trí, của Bửu Chỉ, Đinh Cường... Bìa của Bửu Chỉ đã tạo được dáng nét riêng cho Sông Hương. Nên cố duy trì việc in phụ bản. Có khi người ta mua tờ tạp chí là để giữ được một phụ bản quí.

Tòa soạn Sông Hương có những người biết làm báo. Việc ra tờ phụ trương về cơn bão số 8 là việc làm đáng khích lệ. Đáng lẽ các báo khác, kể cả báo Văn Nghệ của chị, phải nhân đó mà tuyên truyền rộng ra nữa để động viên sức người, sức của đóng góp cho Huế và Bình Trị Thiên khắc phục thiên tai. Tôi đọc số báo này một mạch và hết sức xúc động. Con số hơn ba ngàn cây cổ thụ bị đổ trong cơn bão đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi. Tôi nghĩ ngay là phải có một hành động gì đó hưởng ứng với anh em ở Huế. Vì còn đau chân không ra bưu điện được tôi đã bảo cái Giang đi đánh ngay bức điện vào Huế như chị biết đó! Những bức ảnh (tuy còn phải in giấy đen) và những số liệu thông báo kịp thời về sự thiệt hại là rất cần thiết. Đó có thể gọi là sự nhạy bén trong nghề làm báo.

Nhân dịp đầu xuân, nhờ chị chuyển đến tòa soạn Tạp chí Sông Hương và bạn đọc Sông Hương lời chúc khai bút của độc giả Nguyễn Tuân.

Ngọc Trai: Xin cảm ơn Anh đã dành thì giờ cho buổi trò chuyện lý thú này.

NGỌC TRAI thực hiện
(18/4-86)


NHỮNG CÂU NÓI QUÁ HAY!

• Nếu ở gần một người mà bạn thấy thời gian trôi thật nhanh còn khi xa người đó bạn lại thấy thời gian trôi qua thật chậm thì bạn nên đem đồng hồ đi sửa.

• Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhau nhìn về... cái xe dựng ở gốc cây kẻo nó chôm chỉa mất.

• 1 cô gái đứng trước tôi mà cúi mặt xuống có nghĩa là cô ấy đang thẹn thùng vì thích tôi, còn nếu tôi mà nhìn xuống trước mặt 1 cô gái thì đơn giản là tôi thích...cặp đùi của cô ấy.
• Khi bạn gặp chó dại hay rắn độc thì bạn hãy đứng yên để cho nó cắn ,Vì đằng nào chạy thì nó cũng.... cắn

• Có những điều mà 1 người không biết, 2 người không biết, 3 người , 4 người... cũng không biết thì đơn giản là họ có biết cái quái gì đâu .
• Khi có con mèo đen đi qua trước mặt bạn thì điều đó có nghĩa là nó đang đi đâu đó.
• Nếu bạn thấy không ai quan tâm tới mình thì bạn hãy thử vào nhà hàng và quên trả tiền đi. Sẽ có người quan tâm tới bạn ngay!

Một người phụ nữ toàn diện : sáng diện , trưa diện , chiều diện , tối diện.

Hôn nhân luôn tặng bạn một đặc ân : chỉ có ai có nó mới có thể ly dị được.

Trăm năm bia đá cũng mòn , bia chai cũng bể , chỉ còn bia ... ôm.

Thiếu nữ là chữ viết tắt của thiếu ... nữ tính.

Còn... nói còn.. tát.

• Bầu ơi thương lấy bí cùng , mai sau có lúc... nấu chung một nồi.
• Nhìn thẳng mặt trời mãi không thấy loá.... là hội người mù 100%.

• Bạn có thể là anh hùng nếu bạn tên là Hùng và bạn có 1 đứa em

• Bạn có thể là bác sĩ mà không cần học nếu bạn tên Sĩ và có 1 đứa cháu

• Quân tử nhất ngôn là quân tử dại. Quân tử nhai di nhai lại là quân tử khôn.

• Sao cái thằng ấy dốt thế, mình không biết mới hỏi nó chứ !

• Ðừng bao giờ xem Tivi mà quên chưa cắm điện, và nhớ là đang ăn thì không được đánh răng đâu đấy !

• Thà hôn em một lần rồi chịu tát còn hơn cả đời nhìn thằng khác hôn em
• Xăng ..có thể cạn, lốp ...có thể mòn , nhưng số máy, số khung thì không bao giờ thay đổi

• Nhà sạch thì mát. Bát sạch tốn xà bông.

• Con gái đẹp là con gái trong mơ, con gái ngoan là con gái...trong nhà trẻ

• Khi có con mèo đen đi qua trước mặt bạn thì điều đó có nghĩa là nó đang đi đâu đó.

• Ðược voi đòi.....Hai Bà Trưng

• Một điều nhịn là chín điều nhục.

• Gần mực thì... bia, Gần đèn thì... hút.

• Bọn này đúng là càng lớn càng... nhiều tuổi.

• Trèo cao ngã đau. Trèo thấp ngã cũng đau.

• Ai bảo chăn trâu là khổ, tôi nay chăn nàng còn khổ hơn chăn trâu

• Cái con bé ấy không xinh, không khéo thì cũng chẳng được cái gì..

• Cá không ăn muối cá ươn Con không ăn muối.....thiếu iot rồi con ơi.

• (toà hỏi): thế hắn ta đã giết chết anh như thế nào hử?

• Nước mắt em đang rơi ướt nhoè dòng chữ ....(thư điện tử cho người yêu.)

• Bạn hãy nhớ đừng bao giờ nhìn thẳng vào..... mặt mình mà hãy nhìn qua gương

• Không mày đố thầy dạy ai

• Trông bạn quen quen, Hình như tớ ...chưa gặp bao giờ

• Bạn có biết ai mà bạn ghét nhất và căm thù nhất không, Ðó chínhlà.....kẻ thù của bạn

• Ðừng hỏi tôi bạn là ai, hãy hỏi mẹ của bạn

• Nếu bạn không mua được cái gì bằng tiền, bạn hãy tin rằng nó sẽ mua được bằng...nhiều tiền hơn

• Chúng ta đang có tất cả nếu chúng ta đang có 1 vật có tên là "Tất cả"

• Thà ngu vì thiếu i ốt còn hơn là thiếu i ốt mà vẫn ngu (hic ,nó nói cái gì thế)

• Muốn thắng trong điền kinh thì tốt nhất là vừa chạy vừa ....rải đinh

• Bom nguyên tử là phát minh để ....kết thúc các phát minh khác

• Nếu bạn mặc quần áo ra đường mà bị chê xấu thì tốt nhất bạn không nên mặc quần áo nữa

• Con ơi , 2 giờ sáng rồi đấy, dạy rửa mặt rồi uống thuốc ngủ đi con

• Trông mày khôn lắm cơ thằng ngu ạ

• Trúc xinh trúc mọc đầu đình em xinh em hút thuốc lào cũng xinh

 NHỮNG VẦN THƠ  THẤT ..........KINH!

Chị em nô nức đặt vòng
hoa mộ liệt sỹ tỏ lòng biết ơn


Anh đi công tác bản Mường
Tè xong một cái lên đường về quê


Chồng người du kích sông Lô
Chồng em ngồi bếp nướng ngô cháy quần


Email anh viết thật bay
bướm em mong đợi từng ngày từng đêm


Con đò dịch đít sang ngang
Bên kia có một cái làng thò ra


Bướm đồng động đến thì bay
Bướm nhà động đến lăn quay ra giường


Chim đồng bóp cái chết ngay
Chim nhà mà bóp càng ngày càng sưng


Mời anh vào quán kara-
OK em đã mở ra sẵn sàng


Sông Cầu nước chảy lơ thơ
Có đôi trai gái ngồi hơ quần đùi


Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân bắc phân xanh đầy làng


Ta đi bầu cử tự do
Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm


Bắc Ninh có cậu Nguyễn-Trùng-
-Dương, vật khỏe quá cả vùng thất kinh


Mấy em mặc váy đánh cầu
lông bay phấp phới trên đầu các anh


Anh đi công tác Cam Pu
Chia chiến lợi phẩm ở tù ba năm


Nhớ nhung về thị xã Phan
Thiết tha mơ tưởng cô hàng nước măm


Chưa đi chưa biết Cửa Lò
Đi về mới biết nó to thế này


Chị em du kích tài thay
Bắn tàu bay Mỹ rơi ngay cửa (nhà) mình


Liên hoan có bánh có chuồi
Ta đi ta nhớ cái buồi (buổi) hôm nay


Anh đi công tác Pờ Lây
Ku dài dằng dặc biết ngày nào ra
Còn em em vẫn ở nhà
Cửa (nhà) mình em mở người ra kẻ vào


Tiễn anh lên bến ô tô
Đêm về em khóc ... tồ tồ cả đêm


Hoan hô anh La Văn Cầu
Cánh tay bị đứt nhưng đầu vẫn nguyên


Không đi không biết Tam Đao (Tam Đảo)
Đi thì không biết chỗ nào mà ngu (ngủ)
Một giường nó nhét hai cu (cụ)
Thôi thì cố nhịn đến chu nhật về...


Phụ nữ thường rất hay lươi (lười)
Riêng em anh thấy là người cần... cu (cù).


Ngọt ngào bóc múi em ra
Mời nhau cặp bưởi, chút quà Hùng Đoan


Nhớ quê ra đứng đỉnh đèo
Bỗng đâu thấy một chú mèo gâu gâu

Nguyên tố hóa học mới

Đây là tư liệu khoa học về một nguyên tố mới được thêm vào "bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học":

1. Tên nguyên tố : Con Gái

2. Ký hiệu: Gi (Girl)

3. Khối lượng nguyên tử: !! Cấm không được đụng chạm đến vấn đề này.

4. Tính chất vật lý: Thường có hình tròn trịa. Sôi và đông lạnh không dự báo. Tan chảy khi được đối xử đúng mực.

5. Tính chất hóa học: Hoạt tính cao, không ổn định. Chịu sức hút của vàng, bạc và bạch kim. Có thể hấp thụ năng lượng thực phẩm lớn. Có thể bị đổi mầu khi đứng cạnh các vật mẫu "nổi" hơn.

6. Sử dụng: có tính trang trí cao. Là chất xúc tác mạnh cho sự phân tán tài sản.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Vọng niệm 2: Những bức ảnh về chiến tranh năm đó và dáng đứng Việt Nam hôm nay

Nguyễn Thượng Long (Danlambao) - Sau những bài viết về quân lực Việt Nam Cộng Hoà như bài “Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà với việc bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa”, bài “Năm 2011… những nghịch lý đời thường", tôi viết về cái chết của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ nguyên Phó Tổng Thống, nguyên Thủ Tướng VNCH, nguyên tư lệnh không quân VNCH, gần đây nhất trong bài “Hải Phòng… còn đâu nữa niềm tin!", với tấm hình rất nổi tiếng của Eddie Adams, tôi duy nhất ghi một dòng giới thiệu theo lời giới thiệu của báo chí thế giới, không hề có ý bình luận: “Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan chánh cảnh sát đô thành Sài Gòn xử bắn tù binh đặc công Bẩy Lốp trong biến cố Mậu Thân 1968”. Thật bất ngờ chỉ sau 24h xuất hiện, đã có hàng trăm comments cho bài viết này.
Ngoài những lời chia sẻ cùng tôi về sự kiện Tiên Lãng Hải Phòng, có không ít lời chê trách, phàn nàn rằng tôi vô ý thức, là không biết gì về bức ảnh đó, thậm chí có người còn kết tội tôi là kẻ “đi hàng hai” khi sử dụng tấm hình này. Tôi không tin hơn 40 năm sau biến cố Mậu Thân 1968 và cũng ngót 40 năm sau ngày 30-4 những người lính nay lại mất bình tĩnh đến thế khi nhìn lại hình ảnh của một thời khói lửa và hận thù phủ trùm lên quê hương và như vậy, có thể nói: Dư âm của cuộc nội chiến tương tàn vừa qua 1954 – 1975, còn lâu lắm mới ra khỏi tâm thức của người Việt Nam.
Vậy bức ảnh mà tôi đã sử dụng là bức ảnh gì mà nhiều người không hài lòng với tôi đến thế? Phần tôi, khi được chiêm ngưỡng tác phẩm này, tôi đã nghĩ: Tấm hình này xứng đáng là một kiệt tác ảnh phóng sự về chiến tranh, không tiền khoáng hậu, sẽ lưu danh muôn thuở. Hãy cùng đọc lại những thông tin về số phận của bức ảnh có tên “Hành Quyết Tại Sài Gòn” – Saigon Excution mà tôi đã dùng, để biết số phận tác giả và những nhân vật liên quan đến bức ảnh này: 
Nhiếp ảnh gia Eddie Adams (1933 - 2004)
* Eddie Adams, người chụp bức hình này viết:
“Tôi dõi máy theo…
khi họ đến gần khoảng 5 foot, những người lính dừng lại và lui về phía sau. Tôi thấy một người đàn ông từ bên trái bước vào trong vòng ngắm máy ảnh của tôi. Ông ta rút một khẩu súng lục ra khỏi bao và nâng lên chĩa vào đầu người Việt Cộng…
Đúng lúc đó tôi chụp bức hình - Eddie Adams (Giải thưởng báo chí Pulitzer 1969 – NTL)
* Theo lời kể của Neil Davis trong hồi ký In the Frontline thì: “…Tướng Loan cầm khăn lau mặt, vẫy tay kêu các tuỳ tùng tránh ra, đi đến bên Bẩy Lốp, không nói một lời, Loan quăng điếu thuốc và móc khẩu súng lục ra. Ông ta lấy tư thế của một xạ thủ, cánh tay phải giơ thẳng ở khoảng cách có lẽ 1m, bắn vào thái dương của người tù binh này”.
* Bức ảnh “Hành quyết tại Sài Gòn” xuất hiện trên trang nhất báo chí thế giới ngay ngày hôm sau… đã tạo ra một làn sóng phẫn nộ khắp thế giới. Bức ảnh đã thực sự làm bùng cháy ngọn lửa phản chiến đang âm ỉ tại Mỹ. Viện Galup cho biết trước tết Mậu Thân có 1/5 số người được hỏi nhận mình là “Diều Hâu” (Ủng hộ chiến tranh), nhưng sau khi thấy bức hình Tướng Loan bắn Bẩy Lốp thì họ tự đổi thành “Bồ Câu”. (Nguyễn Ngọc Chinh’s - Hồi Ức Một Đời Người)
* “Saigon Excution” đã trở thành hình ảnh được nhớ tới nhiều nhất trong Chiến Tranh Việt Nam, giúp cho Eddie Adams giành được giải thưởng World Press Photo of the Year và giải báo chí Pulitzer năm 1969 về thể loại ảnh. Năm 2007, bức ảnh này được tạp chí Metal Floss bầu chọn là một trong 13 tấm ảnh đã làm thay đổi bộ mặt thế giới.” (Nguyễn Ngọc Chinh’s – Hồi Ức Một Đời Người)
* Nguyễn Ngọc Chinh viết tiếp, cùng có mặt trên đường phố Sài Gòn lúc đó còn có Võ Sửu là phóng viên quay phim cho đài truyền hình NBC. Tuy Võ Sửu cũng quay được cảnh Tướng Loan bắn Bẩy Lốp, nhưng cũng thật là bất công, cả thế giới chỉ biết được bức hình của Eddie Adams. Võ sửu kể: “Sau khi bắn, Tướng Loan nói với các ký giả: “Người này đã giết vô số dân chúng của tôi và…
Tôi nghĩ: “Đức Phật sẽ tha thứ cho tôi”
* Sau khi bức hình được cả thế giới biết đến, Eddie Adams luôn sống trong bất ổn. Ông kể: “Tôi mặc bộ đồ dạ hội sang trọng để lãnh giải thưởng và tiền thưởng về bức hình đó tại Đại Hội Nhiếp Ảnh ở Hà Lan. Khi ban nhạc trôi bài quốc ca Hoa Kỳ, tôi bật khóc. Không phải tôi khóc vì sung sướng mà khóc cho Tướng Loan. Cho tới giờ phút đó, tôi vẫn chưa ý thức được việc mình đã làm. Khi chụp tấm hình đó tôi đã huỷ hoại đời ông Tướng, vì ông bị dân chúng ở cả nước ông lẫn Hoa Kỳ lên án về tội giết tù binh chiến tranh. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào người ta vẫn cứ thường làm như vậy, nhưng hiếm có nhiếp ảnh viên nào chụp được như tôi mà thôi” (Eddie Adams)
* Năm 1983 Adams trở lại Việt Nam và được thấy tấm hình oan nghiệt của mình được trưng bầy ở một chỗ rất trang trọng trong Bảo Tàng Chiến Tranh tại Sài Gòn. Tuy nhiên, hiện nay không hiểu vì lý do gì bức hình Saigon Excution đã không còn được trưng bầy, chỉ được bày bán trong gian hàng lưu niệm tại đây mà thôi. Đến thập niên 1990 ông giải thích: “…bức hình tôi chụp đã lừa dối công luận. Ông ấy chiến đấu cho cuộc chiến của chúng ta (Người Mỹ) không phải cuộc chiến của họ.” (Eddie Adams)
* Lại nói về người lính đặc công mặc áo ca rô trong bức ảnh có tên là Nguyễn Văn Lém tức Bẩy Lốp, lại có tài liệu nói anh ta là Lê Công Nà tức Bẩy Nà (!?). Sau ngày 30 – 4 – 1975 có tới 8 người đàn bà đứng ra nhận mình là vợ của người đàn ông mặc áo carô trong bức ảnh và hài cốt của người này đến nay vẫn chưa tìm thấy, dù anh ta đã được phong tặng danh hiệu Liệt Sĩ. (!?) Vậy là người mặc áo carô trong tấm hình của Eddie Adams sau gần 50 năm vẫn còn là vô danh? Phải chăng vì lý do này mà bức ảnh đó không còn hiện diện ở nơi trang trọng nhất trong Bảo Tàng Viện chiến tranh ở Sài gòn? (Nguyễn Thượng Long)
Một trong 8 người đàn bà đã nhận là vợ của người đàn ông mặc áo carô.
* Số phận của Tướng Loan thế nào ?
Tướng Loan bị bắn trọng thương trên cầu Phan Thanh Giản
Tướng Loan và vợ tại cửa hàng bánh Pizza ở USA sau 30-4-1975
“Bốn tháng sau sự kiện Saigon Excution, ngày 5-5-1968 bộ đội Bắc Việt mở đợt tổng công kích lần thứ 2. Lần này, Tướng Loan cùng lực lượng cảnh sát ngày đêm tiếp tục chiến đấu trên đường phố Sài Gòn. Ông bị trọng thương ở cả 2 chân trên cầu Phan Thanh Giản tức đường Điện Biên Phủ ngày nay. Một ký giả Úc đã nhìn thấy và dìu ông vào chỗ an toàn. Định mệnh thật kỳ lạ: Một ký giả Mỹ đã huỷ diệt danh dự ông thì 4 tháng sau một ký giả Úc đã cứu sống ông. Sau đó Tướng Loan được chở sang Úc chữa trị, nhưng bị công luận Úc phản đối, nên ông lại được chuyển sang bệnh viện Walter Reet Army Medical Center ở Washington DC Hoa Kỳ. Nhưng thật đau đớn cho Tướng Loan, các Dân Biểu phản chiến tại Quốc Hội Hoa Kỳ lúc đó cũng phản đối. Trở về Sài Gòn trên đôi chân tật nguyền khập khiễng, Tướng Loan được giải ngũ và dành thì giờ vào các công tác thiện nguyện giúp trẻ mồ côi. Sau 1975, Tướng Loan và gia đình đến lập nghiệp ở thành phố Springfield, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Ông mở một tiệm bán bánh Pizza. Đã có lần Eddie Adams đến tiệm này thăm Tướng Loan. Khi nhắc đến tấm hình oan nghiệt ngày xưa, Tướng Loan không một lời oán trách, ông còn an ủi Adams “Ông làm nhiệm vụ của ông, tôi làm nhiệm vụ của tôi. Chỉ có thế thôi”…và từ đó họ trở thành đôi bạn tri kỷ. Năm 1991, Tướng Loan phải đóng cửa tiệm Pizza vì dân chúng địa phương đã nhận diện được ông. Có kẻ đã vào WC của tiệm viết lên tường dòng chữ khiếm nhã: “We know who you are” (Chúng tao biết mày là ai?). Tướng Loan qua đời lúc 20 h ngày 14-7-1998 vì bệnh ung thư tại Brucke, Virginia, thuộc vùng ngoại ô của Washington DC, thọ 68 tuổi. Ông để lại vợ là bà Mai Chính, 5 người con và 9 cháu nội ngoại.” - (Theo Nguyễn Ngọc Chinh’s - Hồi ức một đời người).
Khi sử dụng tấm hình Tướng Loan xử bắn Bẩy Lốp, tôi không để một áp lực nào chi phối bởi tôi luôn tâm niệm: Trung lập không thiên vị là phẩm chất phải có của những người cầm bút chân chính. Tôi rợn người khi thấy nòng súng của Tướng Loan rê vào mang tai đặc công Bẩy Lốp, thì tôi cũng ghê người trước hình ảnh những hố chôn tập thể dân thường được tìm thấy ở Huế sau Mậu Thân 1968 mà nghi án thủ phạm là những tay súng AK 47 của phía chúng tôi (!?). Tôi đau nỗi đau của người đồng bào tôi đã ngã xuống ở đường phố Sài Gòn và Huế 1968 thế nào thì tôi cũng xót xa như vậy khi nhìn tấm ảnh Kim Phúc trần truồng trên đường, dang tay vẫy vẫy vì lửa napan của Mỹ ở Trảng Bàng Tây Ninh 1972.
Kim Phúc cô bé Napan (Ảnh Nick Út). Giải thưởng báo chí Pulitzer
và sau này tôi cũng không hề thấy tâm hồn mình thanh thản chút nào trước tấm hình “Cha Lý bị bịt miệng”, hình “Nguyễn Tiến Nam bị bắt trước chợ Đồng Xuân”, hình Bùi Thị Minh Hằng bị hành hạ, Nguyễn Chí Đức bị đạp mặt trong cuộc biểu tình yêu nước khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam, hình ảnh phụ thân của Hoa Hậu biểu tình Trịnh Kim Tiến bị Công an đánh gẫy cổ, gần đây nhất là hình ảnh Đại Tá Đỗ Hữu Ca giám đốc công an Hải Phòng rất ngầu trong bộ đồ CSCĐ đang ném về phía anh em nhà Đoàn Văn Vươn những tia nhìn từ con mắt mang hình viên đạn của hận thù. 
Tôi tin rằng ở thế giới bên kia, nhiếp ảnh gia Eddie Adams mất năm 2004, Tướng Loan mất 1998, đặc công Bảy Lốp mất 1968, cùng biết bao thường dân vô tội có tên và không có tên ở cả 2 bên, sẽ không ai lên án tôi khi tôi đã nhắc đến họ bằng tình cảm của con người với con người. Là nhà giáo… trong tôi không có lá phiếu nào dành cho cách hành xử hung bạo. Khi sử dụng tấm hình nổi tiếng của Eddie Adams, tôi chỉ muốn bầy tỏ một điều rất giản dị là: “Lựa chọn bạo lực, lại là bạo lực trong nội bộ dân tộc với nhau không phải là một lựa chọn tối ưu”. Khi sử dụng tấm hình Tướng Loan tôi biết, cú xiết cò đó ông Loan chỉ loại trừ được một con người, cú bấm máy xuất thần của Eddie Adams chỉ giết được danh dự của một mình Tướng Loan thôi, còn bức ảnh Đại Tá Đỗ Hữu Ca hôm nay… tuy không giết chết được ai, nhưng nó chỉ ra sự xuống cấp về đạo đức của người làm công vụ, sự mất niềm tin của dân chúng, sự sa sút uy tín của thể chế, thậm chí lấp ló là lời tiên báo về sự sụp đổ của cả một chế độ.
Biến cố Mậu Thân đã lùi xa 44 năm rồi, Ngày 30-4 cũng đã có 36 lần tổ chức, ngày 30-4-2012 đang dần đến với dân tộc tôi. Không biết sau những ngày các Nghĩa Trang Liệt Sĩ nơi tưởng niệm đồng bào ta ngã xuống trong trận chiến Hoàng Sa 1974, trận chiến biên giới phía Bắc 1979 vẫn tiếp tục là hương lạnh khói tàn, sau sự kiện lễ tôn vinh và tặng quà cho thân nhân gia đình 64 chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân Việt Nam ngã xuống trong trận chiến giữ đảo Gạc Ma 1988 do báo Thanh Niên cùng báo Nông Thôn Ngày Nay, Hội CCB Việt Nam, hội CCB ngành dầu khí được Bộ Tư Lệnh Hải Quân, vùng 4 hải quân đồng tình và hoan nghênh, nhưng đến phút cuối cùng đã không được “Trên” cho phép tổ chức… thì có ảnh hưởng gì đến sự náo nhiệt của ngày 30-4-2012 lịch sử, ngày mà cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt coi đó là ngày mà “Triệu người vui và cũng có cả triệu người buồn”?
Người đời xưa nói: “Mạnh vì gạo – Bạo vì tiền”, người đời nay nói: “Chân lý thuộc kẻ mạnh!”. Dân tộc Việt Nam có thực sự còn sức mạnh nữa không khi trong tay là một bình quân GDP ở tốp thấp nhất khu vực và thường xuyên phải “ăn độn” với một “Niềm Vui – Nỗi Buồn” kỳ lạ như thế ? Không biết trong những ngày này, ai còn nhớ cũng trong Mậu Thân 1968, có một tiểu tổ đặc công tiềm nhập vào phi trường Tân Sơn Nhất và… một tượng đài bằng âm thanh “Dáng Đứng Việt Nam” đã ra đời: (Trích đoạn)
“Trong chúng ta, anh như những thiên thần. Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất. Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng. Và Anh chết trong khi đang đứng bắn. Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng. Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng. Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn. Bởi Anh chết rồi, nhưng lòng dũng cảm, vẫn đàng hoàng nổ súng tiến công” và...

“Anh giải phóng quân ơi, tên anh đã thành tên đất nước.
Tổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân…
Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất.
Dáng đứng tự hào, dáng đứng Việt Nam.”

(Lời Thơ: Lê Anh Xuân, Âm Nhạc: Nguyễn Chí Vũ, Ca Sĩ hát: TrungKiên – Doãn Tần)
***
Vâng đã có một thời lãng mạn như thế, một thời trùng trùng điệp điệp là máu xương của những con người như thế. Những hy sinh to lớn và âm thầm của những người lính là hoàn toàn có thật, đâu để hôm nay chúng ta lại phải sống như lạc loài ngay trên quê hương xứ sở của ông bà. Về kinh tế: Chúng ta đang ngày càng tụt hậu so với các lân bang. Về thể chế chính trị: Chúng ta là một dị thường trong con mắt của các dân tộc văn minh. Trước tổ tiên, giống nòi: Chúng ta đang vô tư làm biến mất bao đất đai, biển đảo và biết bao những giá trị tinh thần Việt Nam được hun đúc từ suốt 4000 năm lịch sử và nhìn nhau bằng những đôi mắt mang hình viên đạn. Còn đứng trước người phương Bắc, chúng ta lại khúm núm đến thảm hại trong một “Dáng Đứng” không thể chấp nhận được. Thật đúng là: “Giữa ngày vui mà nước mắt lại trào!”
Bạn có thể sẽ không đồng ý với tôi, đó là quyền của bạn. Còn với tôi, những suy nghĩ: Bỏ điều 4 là cần thiết, thực hiện điều 69 để nhân dân Việt Nam được hưởng những gì mà các dân tộc văn minh đang được hưởng… đến cùng với khí trời mà tôi hít thở, nước uống và lương thực mà tôi sử dụng mỗi ngày, đến với tôi cùng với niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc và cả những bất hạnh. Tôi tin rằng, ai cũng thấy như tôi cả thôi, có điều tôi đã nói ra điều đó, trong khi nhiều người khác… vì một lý do nào đó mà họ đã chọn phương cách: “Im Lặng Là Vàng”, chấp nhận “Sống Chung Với Lũ”. Đáng buồn làm sao, lại có người chỉ vì những lợi ích cá nhân và băng đảng của mình mà đã sẵn sàng nói những điều hoàn toàn là ngược với những gì mà chính họ cũng đã nghĩ, dù rằng họ thừa biết tiếp tục làm theo những điều ngược đó… cả dân tộc này sẽ tiếp tục bị đoạ đầy./.
Hà Đông Tháng 3 - 2012
Nơi ở: Văn La – Phú La – Hà Đông – Hà nội
ĐT: 0433521066
Email: nguyenthuonglong571@gmail.com

Một PGS.TS "mổ phanh" đề xuất thu phí của Bộ trưởng Thăng

"Hơn 90% các chuyến đi vào trung tâm thành phố vào giờ cao điểm bằng phương tiện cá nhân. Nếu hạn chế, họ phải đi bộ à?"

Vừa qua, Bộ Giao thông Vận tải đã gửi tới Thủ tướng Chính phủ Tờ trình 1818/BGTVT-TC báo cáo bổ sung đề xuất thu phí hạn chế phương tiện giao thông cá nhân đường bộ và phí ôtô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm. Ngay lập tức, dư luận đã có nhiều phản hồi về đề xuất này. Giáo dục Việt Nam đã nhận được những ý kiến của PGS.TS Nguyễn Văn Thụ, Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch và Quản lý Giao thông vận tải về nhiều vấn đề xoay quanh đề xuất mới của Bộ.

Ông Thụ cho rằng, nội dung đề xuất của Bộ Giao thông vận tải đưa ra đã rất rõ ràng. nhưng chưa thật đầy đủ. Tuy nhiên, theo ông, có 4 điểm mấu chốt cần được xem xét và tính toán cụ thể, kỹ lưỡng.



PGS.TS Nguyễn Văn Thụ, Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch và Quản lý GTVT

"Thứ nhất, mục đích thu phí để làm gì? Nếu để giảm ùn tắc cho đô thị thì không khả thi. Nếu để hạn chế phát triển phương tiện cá nhân và tạo thêm nguồn tài chính để cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông thì cách tính mức thu và phương thức thu sao cho hợp lý, đơn giản, công bằng, không gây phiền hà cho người dân thì mới tạo đồng thuận. Nếu cách tính mức thu và làm như dự án là không được.

Chủ ôtô hiện phải nộp 8 loại thuế và phí gồm:
- Thuế nhập khẩu ôtô
- Thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế VAT
- Phí trước bạ
- Phí đăng ký cấp biển số
- Phí xăng dầu
- Phí kiểm định
- Phí bảo hiểm.
Thời gian tới sẽ phải nộp:
- Phí bảo vệ môi trường
- Phí bảo trì đường bộ

Thứ hai, vấn đề mức thu phí như thế nào và bằng cách nào cần được cân nhắc. “Riêng về vấn đề này tôi chưa được biết nên không dám kết luận là có khoa học, hợp lý và có thu được không”.

Vấn đề thứ ba là hiệu quả kinh tế - xã hội mà dự án này thực hiện được như thế nào? Ở đây, với quyền lực nhà nước thì chắc chắn Bộ sẽ thu được tiền. Tuy nhiên, cũng giống như đổi giờ học, giờ làm, cần phải xem xét đầy đủ, rõ ràng hiệu quả của đề án.

Thứ tư, trong đề xuất được nêu của Bộ Giao thông vận tải, vấn đề ai sẽ chịu trách nhiệm, chịu trách nhiệm như thế nào nếu dự án này không đạt được các mục tiêu đặt ra đều chưa rõ ràng, minh bạch. Về điều này, tôi nghĩ, người đề xuất, người duyệt và tổ chức thực hiện cần phải cam kết về trách nhiệm, không thể nói suông được", PGS.TS Nguyễn Văn Thụ dẫn giải.
 PGS.TS Nguyễn Văn Thụ nói thêm, Nhà nước có quyền yêu cầu nhân dân phải tuân thủ pháp luật, nếu yêu cầu họ đóng góp, chắc chắn họ sẽ đóng góp. Nhưng tiền phí thu được sau khi trừ những chi phí thực hiện việc thu và kiểm soát thu phí sẽ mang lại cho ngân sách bao nhiêu thì cần tính toán kỹ lại. Nếu không tính toán được, rất dễ xảy ra tình trạng “một tiền gà, ba tiền thóc”.?


Ngoài ra, ông Nguyễn Văn Thụ cho rằng, theo nội dung đề xuất thì việc thu phí có thể giảm thiểu ách tắc giao thông, đồng thời cơ sở hạ tầng được nâng cấp. Tuy nhiên, việc nâng cấp đường sá phải được đi trước. Nếu Bộ chưa cam đoan được khi nào đường sá sẽ tốt lên, tốt lên ở mức độ nào,… mà chỉ “nói suông’ như vậy thì không thể lấy được lòng tin của nhân dân về tính khả thi của đề xuất.

Nói thêm về việc thu phí vào nội đô với ô tô giờ cao điểm, ông Thụ cho rằng sẽ kéo theo nhiều hệ lụy không hay. Đơn cử như để thu được phí, Bộ sẽ phải xây dựng một hệ thống thu phí xung quanh thành phố. Khi đó, nếu đặt điểm thu phí ở ngoài vành đai thành phố thì có nhiều ô tô sẽ phải nộp phí oan do họ không vào nội thành mà chỉ có nhu cầu đi ở vành đai( vi dụ đi từ Quốc lộ 5 lên cầu Pháp Vân về Hà Nam); hoặc đặt điểm thu phí trong vành đai thì mỗi lần trả phí, ô tô lại phải dừng lại làm tình trạng ùn tắc tăng thêm. Do đó, trên thực tế, mục tiêu mà Bộ GTVT đưa ra là không khả thi. Ngoài ra, với xe máy, việc kiểm soát xe máy đã mua phí hay chưa trong giờ cao điểm khó có thể làm được.

Hơn 90% các chuyến đi vào trung tâm thành phố vào giờ cao điểm bằng phương tiện cá nhân. Vậy nếu họ không đi nữa, thì phải đi bằng gì vào trung tâm? hay đi bộ? hay là họ đi tới vành đai rồi gửi xe đâu đó, rồi đi phương tiện công cộng vào nội thành? Bên cạnh đó, dòng người từ nội đô ra ngoài cũng góp phần làm ùn tắc giao thông, tại sao không phải chịu phí? Ở đây xuất hiện sự bất bình đẳng.


Bạn thấy thế nào về phương án thu phí giao thông do Bộ GTVT trình lên Thủ tướng?
  • Không khả thi
  • Khả thi
  • Phương án khác

Ông nói, thực tế ở nước ngoài, việc thu phí giao thông được áp dụng rất thành công. Nhưng điều kiện, hoàn cảnh ở Việt Nam hoàn toàn khác nước ngoài. Họ có hệ thống vận tải hành khách công cộng phát triển ở trình độ cao. Người dân lựa chọn việc đi bằng phương tiện nào là tùy vào từng chuyến đi cụ thể, thậm chí đi bằng phương tiện công cộng còn thuận tiện và rẻ tiền hơn nên họ làm được. Ở Việt Nam, hệ thống vận tải hành khách công cộng còn chưa thỏa mãn nhu cầu của người dân, nên không thể bắt chước họ được.
Nói về một đề xuất có thể vừa giảm thiểu được ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn mà không nhất thiết phải áp dụng hình thức thu phí như đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải, ông Thụ đưa ra những giải pháp tình thế: Điều tiết luồng giao thông trên từng tuyến, từng nút giao thông vào giờ cao điểm sao cho hợp lý; Việc đưa đón học sinh phổ thông ở trong phạm vi sân trường, không ở lòng đường vỉa hè; Khoán cho cảnh sát khu vực và thanh tra giao thông đảm bảo bảo không lấn chiếm vỉa hè buôn bán nhất là nơi co mật độ giao thông cao; Cấm tất cả các loại xe ô tô kể cả xe thô sơ (trừ xe buýt và một số xe đặc biệt quan trọng xe cứu hỏa, xe cấp cứu, đang làm nhiệm vụ và những xe ưu tiên khác theo luật định) hoạt động hay đỗ ở vỉa hè và lòng đường vào giờ cao điểm ở những tuyến thường ùn tắc giao thông.

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Đến gần để nhìn xa 1. Không hiểu vì sao, từ đâu mà hồi nhỏ, tôi rất thích nghe chuyện các quan lớn ở kinh thành giả dân thường đi kinh lý, đến đâu, chứng kiến tận mắt cảnh quan binh, sai nha sách nhiễu dân, liền giáng chức về làm dân thường hoặc tống vô lao. Mà không chỉ tôi, trong dân gian, vẫn lưu truyền những chuyện đại để thế, có chuyện thật, có chuyện chỉ là giai thoại, nhưng đó gần như là mong muốn, là khát vọng của người dân. Lớn lên đi học, tôi vẫn nghe những câu chuyện như thế lưu truyền trong dân gian. Một thời, người ta kể, thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, Chính ủy kiêm Tư lệnh đầu tiên của Đoàn 559. (nay gọi là Bộ đội Trường Sơn) một lần cởi giày cao cổ xách tay, vắt quần dài lên cổ lội qua ngầm Phú Kỳ (đường 15 đoạn ngang qua Quảng Bình), ngẩng lên, thấy bờ bên kia có một anh sĩ quan đeo súng ngắn, dày đen Cô-sô-gin đang gọi mình ê, ê…rồi chỉ chỉ vào chân, ý nói cõng anh qua ngầm kẻo ướt dày. Ông Tuệ dạ dạ, cúi lưng  cõng anh sĩ quan quay lại phía bờ bên kia. Đến giữa ngầm, ông Tuệ hỏi, anh ở đơn vị nào, bảo 559; hỏi ở 559 có biết cha Phan Trọng Tuệ không. Anh sĩ quan bảo Phan Trọng Tuệ là chính uỷ kiêm tư lệnh của tôi. Ông hỏi tiếp, đã gặp chả chưa. Anh sĩ quan bảo chưa. Ông Tuệ bảo chưa thì bây giờ gặp rồi, có điều chi muốn đề đạt với ổng không. Anh sĩ quan bảo tôi làm gì mà gặp được tư lệnh. Ông Tuệ từ tốn, thì chính uỷ, tư lệnh đang cõng anh đây còn chi nữa…Đến lúc này viên sĩ quan mới nhìn lên bờ, thấy một đoàn tuỳ tùng, biết đó là Phan Trọng Tuệ  thật nên tụt vội xuống giữa ngầm. Ông Tuệ quay lại, giáng chức anh này xuống làm lính. Chuyện có thật đến mức độ nào tôi không rõ, nhưng nhiều người kể y như thật, và chí ít, nó trở thành một gai thoại răn đe cho những ông quan “chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”, nghe cũng đã đời lắm! 2. Cuối năm 1960 công cuộc cải tạo nông nghiệp cơ bản hoàn thành ở miền Bắc. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được phân công làm Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương, chăm lo hoàn thiện quan hệ sản xuất mới và phát triển sản xuất. Trong buổi đầu, kinh nghiệm làm ăn tập thể chưa có, phong trào không tránh khỏi một số khó khăn. Nhiều nông dân ồ ạt xin vào hợp tác xã, có những người vào rồi, chưa kịp thấy cái lợi, đã tính chuyện xin ra. Phong trào không ổn định. Lại thêm vụ chiêm năm 1960 mất mùa vì rét, để lại nhiều hậu quả. Hồ Chủ tịch mời đại tướng đến bảo:  “Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên để đánh tan bầu không khí kém phấn khởi” Nhiều cụ già ở quê tôi kể lại, hồi đó đại tướng về huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, mang tơi rách, nón cời (nòn lá đã mất vành ngoài) ra đồng. Thấy một cụ già đang bứt cỏ cho trâu, qua trận lụt, cỏ dính đầy phù sa, đại tướng hỏi: “Bứt cỏ ni trâu ăn răng được, bác?”. Ông gìa quay lại, thấy một ông cũng…nông dân như mình bèn ngúng ngẳng trả lời: “Hắn ăn không được thì hắn chết, được bữa xào lá lốt”. Đại tướng hỏi tiếp: “Rứa hợp  (hợp tác xã) mềng (mình) trâu chết nhiều không?”. Ông cụ cắt cỏ thúc thắc: “Xào lá lốt phân nửa rồi!”. “Phân nửa là khoảng mấy con bác?”. “Hơn trăm!”-Ông cụ đáp. Đại tướng vào trụ sở uỷ ban xã, hỏi chuyện chống rét cho trâu, thấy cán bộ ấm a ấm ớ. Ông bảo vấn đề sức kéo đang bức xúc mà để trâu chết hàng loạt lại còn ngồi trong nhà mang áo ấm nói ấm a ấm ớ như ri thì mần cán bộ mần chi. Sau đó hầu hết cán bộ chủ chốt trong xã bị thôi chức. Bà con đã lắm!  Năm 1963, một tuần trước ngày khai mạc đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình, đại tướng nguyễn Chí Thanh thay mặt Bộ Chính trị nghe Thường vụ báo cáo. Ông Phạm Xuân Thiết, nguyên Chánh văn phòng Tỉnh uỷ kể lại, biết anh Thanh về nên báo cáo chuẩn bị kỹ lắm, cũng đặt ra các tình huống anh Thanh sẽ hỏi thêm, không ngờ khi vào họp, anh nói với Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Tư Thoan: “Báo cáo mình đọc kỹ rồi, khỏi trình bày lại, mình chỉ hỏi một câu: Ở Quảng Bình HTX nào khá nhất, HTX nào bét nhất?”. Cả Ban Thường vụ nhìn nhau, quả thật, nhận xét chung chung thì dễ chứ chỉ ra được HTX khá nhất và bét nhất thì khó. Đại tướng đứng dậy nói: “Thôi, các ông cứ bàn đi, chỉ ra được thì nhất định có vấn đề cho đại hội, mình đi cơ sở cái đã!”. Hôm sau Thường vụ báo cáo chỉ ra, HTX Đại Phúc khá nhất, Tây Trạch bét nhất, đại tướng bảo đi Đại Phúc trước, sau đi Tây Trạch. Đến Đại Phúc, vào nhà một nông dân, đại tướng hỏi: “Răng nhà nhốt lợn lành với lợn ghẻ”. Chủ nhà thấy “ông hôm qua đến nhà mình” nên không giấu được, đáp: “Đây là lợn ghẻ của trại chăn nuôi HTX gửi vì nghe nói hôm ni đại tướng về thăm”. Đại tướng nghiêm khắc: “Đúng là HTX có nhiều mặt tốt thiệt, nhưng điều quan trọng là cái chi tốt thì nói tốt, cái chi còn kém thì cứ nói còn kém, đừng xấu che tốt khoe thì mới tiến bộ được!”. Mấy ông cán bộ bấy giờ mới cằn nhằn nhau, đã bảo đừng đưa lợn ghẻ vô nhà xã viên, các anh không nghe. Cứ thiệt thà với đại tướng có phải hơn không nà? Hồi đó đại tướng về chỉ đạo HTX Đại Phong, sau này trở thành HTX kiểu mẫu (Duyên Hải, Đại Phong, Thành Công, Ba Nhất… là các mô hình về ngư nghiệp, nông nhiệp, tiểu thủ công nghiệp. quân sự…), ông Phan Xuân Thiết kể, hôm biểu diễn văn nghệ, nghe nói có đại tướng đến dự, bà con hồ hỡi đến để gặp cho được đại tướng. Nhiều bác nông dân chen vô, thấy một ông cũng đang chen như mình bèn  hỏi đại tướng mô, đại tướng mô…Đại tướng chỉ vào một ông cán bộ đang ngồi trên ghế đại biểu, bảo chắc ông to béo đó là đại tướng. Bà con cứ thế chen vào nhìn…đại tướng, còn đại tướng thiệt thì chắp tay sau lưng đi lân la hỏi chuyện làm ăn của bà con. Về Lệ Thuỷ bây giờ, vẫn nghe người ta kể nhiều giai thoại về đại tướng, như chuyện ông xếp hàng mua thịt lợn tem phiếu bị cô bán hàng thấy ông có vẻ…nông dân nên cho đoạn thịt bạc nhạc bị ông phê cho một trận…Hình ảnh vị đại tướng áo tơi nón lá lội khắp đồng đã trở nên quá đỗi thân quen với người dân vùng đất này…Từ đó sinh ra nhiều giai thoại phản ánh mong muốn của người dân đối với cán bộ cấp trên. 3. Hồi còn tỉnh lớn Bình Trị Thiên, một lần nhóm phóng viên được đi chung xe với ông Võ Nguyên Quảng, Phó chủ tịch UBND tỉnh. Đang ngon trớn, ông hô, dừng lại, dừng lại…Anh lái xe phanh kít. Ông bảo lùi lùi…Hoá ra ông thấy một bà già đang gánh gánh rau đi chợ bán nên bảo dừng xe cho bà lên, mà xe thì đã chật. Ông dứt khoát, mọi người chờ ở đây, lái xe chở mệ lên chợ rồi quay lại. Bà gánh rau ngạc nhiên đã đành, chúng tôi cũng ngạc nhiên không kém. Anh lái xe tâm sự, không phải lần ni mô, ổng mà thấy ai đi đường cũng bắt dừng lại cho họ đi với kẻo tội. Một lần khác, chúng tôi theo ông đi về vùng bão lụt. Hồi đó không có chuyện cứu trợ như bây giờ nên khi làm việc xong, ông cởi áo khoác tặng một cụ già trong xóm. Lên xe ông bảo, tí nữa có cuộc họp ở huyện không thì cởi luôn bộ áo quần dài cho thêm cụ nữa, mình về nhà lấy bộ khác  mang…Một lần ông Quảng bổ bả: “Tau nghe mấy ông bà ở quê đó nói mới thiệt, nghe báo cáo thì láo cả!” Hồi Bộ trưởng Trương Đình Tuyển về làm Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An, chúng tôi cũng nghe được nhiều giai thoại về ông. Người ta kể, chuyến đầu tiên ông Tuyển về làm việc với một xã nghèo, sáng ra cả đoàn xe rinh rang chờ ông trước sân trụ sở Tỉnh uỷ. Mãi không thấy ông xuống (hồi đó ông nghỉ tại phòng làm việc), tưởng ông ngủ quên, lâu sau mới có người điện thoại. Ông bảo ông đã đến xã rồi. Đoàn xe chạy về xã vẫn không thấy ông. Điện lại lần nữa, té ra ông bắt xe thồ đi trước, ra ngoài đồng đang trò chuyện với ông chăn vịt. Tôi vào Đà Nẵng, nghe người ta kể chuyện Bí thư Thành uỷ Nguyễn Bá Thanh, hồi đang làm chủ tịch, ông đi ăn ốc hút rồi lân la trò chuyện, hỏi bà bán ốc hút lời lãi bao nhiêu, bà kể bán một ngày chừng ni, thuế chừng ni, còn được chừng ni. Ông Thanh nghe xong rút điện thoại ra điện Cục trưởng Cục Thuế tới, bảo người ta bòn từng hào ri mà ông đánh thuế như rứa ai mà chịu thấu…Rồi chuyện ông bắt xe thồ đi quanh để hỏi họ về đời sống, về tâm tư…Nhiều chuyện thật, nhiều chuyện người ta kể như giai thoại…Những giai thoại đẹp đẽ và chứa đầy khát vọng của người dân. * Sinh thời, Bác Hồ ví đại tướng Nguyễn Chí Thanh như con đại bàng bay cao, nhìn xa. Đó là Bác nói vệ một vị tướng tài ba, mưu lược trong chiến tranh và có tầm nhìn trong xây dựng kinh tế ở tầm vĩ mô. Nhưng để đạt được như thế, cán bộ phải gần dân, biết thực chất của vấn đề mà giải quyết. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, người học trò xuất sắc của Bác Hồ đã học từ Bác những điều cụ thể như thế. Ông đã đến thật gần dân để có được cái nhìn thật xa.

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

Lê Xuân Quang. (Kỉ niệm ngày giỗ lần thứ 2 của thi sĩ Hữu Loan (18.3.2010 – 18.3.2012) , 96 năm ngày sinh (2.4.1916 – 2.4.2012) Trong lịch sử thi ca Việt Nam, có thể nói bài thơ Mầu Tím Hoa Sim của Thi Sĩ Hữu Loan gây ấn tượng sâu sắc nhất đối với người đọc mọi thời đại. Mô típ của thơ Tình yêu - Chia li thường là: Đôi trai gái - Người Tình - Vợ chồng yêu nhau, lấy nhau rồi vì một lý do nào đó phải chia lìa, ly biệt... Đại thi hào Nguyễn Du - viết Truyện Kiều - cho đôi nhân vật Thúy Kiều - Kim Trọng yêu nhau nhưng phải qua thử thách 15 năm sau, họ mới gặp lại, đoàn viên trong xót xa, mất mát... Hồng Hà Nữ Sỹ - Đoàn Thị Điểm lấy chồng, yêu chồng nhưng phải xa nhau 3 năm vì chồng bà được nhà vua phái đi Sứ bên Trung Hoa. Một mình vò võ, khắc khoải đợi chờ... bà trút tâm tư tình cảm vào bản dịch Chinh Phụ Ngâm - (từ chữ Hán sang chữ Nôm - nguyên tác của Đặng Trần Côn) . Bản dịch của nữ sĩ họ Đoàn đã trở thành áng thơ tuyệt diệu trong kho tàng văn học Việt Nam. Đầu thế kỉ 20, đề tài Tình yêu được Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tiếp tục khai thác, nâng lên, đượm mầu sắc cách tân, theo xu hường thời đại. Thề Non Nước củu Tản Đà, là một thí dụ điển hình về thể loại ’’thơ tình’’ mới, tuy nhiên vẫn không khác những cuộc tình của ngưòi xưa: Tình yêu - chia li chỉ mới ở mức độ tạm xa nhau, cả hai đối tượng vẫn nuôi hi vọng ngày gặp lại... Bước vào những năm ba mươi của Thế kỷ 20, trong phong trào Thơ Mới, xuất hiện những áng thơ li biệt, mà mức độ ’’nước mắt’’ đã gia tăng, điển hình bài thơ Hai Sắc Hoa Tigôn của TTKH, bài đáp lời TTKH, Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, cùng thơ tình của những nhà thơ tiêu biểu: Thế Lữ (Bên sông đưa khách), Thanh Tịnh (Mòn mỏi), Xuân Diệu (Lời kỹ nữ…), Huy Cận (Ngậm ngùi), Nguyễn Bính (Cô hàng xóm…)... Thơ Tình yêu đã manh nha một thể loại mới: Thơ vĩnh biệt người tình! Phải đợi đến gần nửa sau của thế kỉ 20 - giữa cuộc kháng chiến chống Pháp 1949 - Thi Sĩ Hữu Loan mới đẩy đề tài tình yêu trong chia li lên tới mức độ mới: Chia lìa - Vĩnh biệt, thể hiện rõ trong Mầu Tím Hoa Sim. Tác gỉa diễn tả nỗi lòng khi  biết người vơ mới cưới ở quê nhà đã chết trong một tai nạn rất đáng tiếc (chết đuối). Nhà thơ đau đớn thốt lên như chất vấn trời xanh: (sao) ’’Không chết người trai khói lửa, mà chết người em gái nhỏ hậu phương’’? Xuyên suốt, bao trùm cả bài thơ là sự đau thương tang tóc đối với người trai ở chiến trường xa, giờ trở về, chỉ còn biết đến nấm mồ viếng người ’’em gái nhỏ - người vợ trẻ’’ đang nằm trong lòng đất lạnh! Những câu thơ như máu thịt, rứt ra từ cơ thể mình, thi sĩ làm người đọc dù không ở trong hoàn cảnh, tự nhiên cũng xót thương, đồng điệu. Tác giả khóc vợ nhưng người đọc cũng bi lụy’’khóc’’ theo như cảnh ’’Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa’’ của nàng Kiều khi viếng mộ Đạm Tiên... Trước MTHS của Hữu Loan, chưa có bài thơ nào có chủ đề về Tình yêu - Chia Li - Vĩnh biệt sâu sắc đến dữ dội như vậy. MTHS như một chất xúc tác, kích thích tình cảm của người thưởng thức (đọc và nghe người khác ngâm thơ), đẩy lên tới cao trào... Sự đồng cảm của độc gỉa còn bởi câu chuyện đời thực của tác giả - như một câu chuyện đặc trưng - xẩy ra nơi này, nơi khác, đây đó... xuất hiện trong lòng người Việt. Với bi kịch của chính mình, Hữu Loan chỉ việc ghi lại những rung động (dữ dội) của trái tim rồi bằng tài năng diễn đạt, dùng ngôn từ chắt lọc, dân dã, dung dị khiến mọi lứa tuổi biết yêu, mọi trình độ, tầng lớp trong xã hội đều cảm nhận, rung động. Thi phẩm đến với người đọc ở hoàn cảnh đất nước đang trong thời tao loạn, đôi lứa rực lửa thanh xuân - phải xa nhau... xa nhau trìên miên trong tâm thức: ’’Cố lai chinh chiến kỉ nhân hồi’’ , ’’Nhât tướng công thành, vạn cốt khô’’ - càng có ý nghĩa nhân văn! Sự thuyết phục tự nhiên của MTHS, khiến những nhà lãnh đạo tư tưởng (tuyên huấn) đương thời - kháng chiến chống Pháp) - e ngại. Rồi, khi vào cuộc chiến tranh tiếp theo - (chống Mĩ) - sợ ’’tác động ngược’’, nghĩa là - sợ khi đối tượng trẻ tuổi đọc bài thơ sẽ không tránh khỏi trạng thái tâm lý bi lụy, làm giảm ’’khí tiết anh dũng’’ cần phải có trong mổi người tham gia cuộc chiến, mà tầng lớp trẻ vốn dĩ rất mẫn cảm - đang là số đông, đóng vai trò chủ chốt. Chính vì vậy, trong suốt thời gian dài, MTHS không được phổ biến. Sau 1954, một phần, có thể do dư âm của sự kiện tác giả ’’liên can’’ đến phong trào Nhân văn giai phẩm. Nhưng cái chính, phần khác - Theo những người lãnh đạo tư tưởng quan niệm: Cái tôi (cá nhân - cái riêng) của bài thơ bao trùm lừng lững. Mà thời đó, chủ trương phải cổ võ hết sức cho ý thức tập thể (cái chung). phải ’’Chống chủ nghĩa cá nhân’’ (cái riêng). Sau này, còn được nâng quan điểm lên, đối diện với ’’Chủ nghĩa cá nhân’’ và chủ nghĩa ’’Anh hùng tập thể’’. Bài thơ lại thêm một lí do cấm phổ biến mặc dù không hề có văn bản chính thức cấm - nào.  Cùng chủ đề, cùng cấu trúc như MTHS ,Núi Đôi của Vũ Cao, Quê Hương Của Giang Nam được những người lãnh đạo tư tưởng của chế độ trân trọng, cho quảng bá bằng xuất bản, đưa vào sách giáo khoa giảng dậy ở trường học, còn Mầu Tím Hoa Sim trong suốt nhiều năm bị’’cấm phổ biến, bị giam, nhốt , bỏ trong hòm ’’khóa chặt’’. Nhưng khi được ’’cởi trói’’ MTHS không thua kém sự ngưỡng mộ của độc gia so với Núi Đôi và Quê Hương. Thậm chí - ngay cả khi vẫn còng đang bị’’giam’’, khi có dịp may mắn được phổ biến’’chui’’, MTHS đã vượt trội sức thuyết phục... Để chứng minh cho nhận định này, tôi kể lại tình tiết một buổi biểu diễn bài thơ Mầu Tím Hoa Sim rất ngẫu nhiên, trong một hoàn cảnh đặc biệt - cách đây gần 50 năm: Vào khoảng 1966 – 1967, khi cuộc không tập của Mỹ vào miền Bắc leo từng nấc thang, cao dần mà đỉnh cuối cùng của nó chính sự kiện 12 ngày đêm của chiến dịch’’Điện biên phủ trên không’’, từ 18 - đến 30 tháng 12 năm 1972 tại không phận Hà Nội - bằng máy bay chiến lược B.52. Theo chủ trương của bộ máy tuyên truyền, để động viên cả xã hội bình tĩnh, tránh gây xáo trộn, hoang mang, tổ chức Đoàn Thanh Niên Lao động ở mọi cấp, ngoài việc động viên thanh niên hăng say sản xuất, tham gia tòng quân trực tiếp chiến đấu trên miền Bắc, còn đi vào chiến trường miền Nam, các đoàn cơ sở chẳng những duy trì nếp sinh hoạt thời chiến, mà còn đẩy mạnh các hoạt động văn hóa bằng cách tổ chức các buổi Hội diễn Văn nghệ. Ở vào khoảng đầu năm 1966, máy bay Mỹ chưa đánh phá cả ban đêm. Đòan TNLĐ mỏ Cọc 6 tiến hành Hội diễn toàn đoàn. Trình tự tuyển chọn từ chi đoàn, liên chi đoàn, chọn ra 1, hoặc 2 tiết mục đặc sắc nhất về dư đêm chung kết tại hội trường Mỏ. Buổi chung kết có 2 vở kịch ngắn của kịch tác gia Ngô Y Linh: Diễn Viên Không Chuyên Nghiệp và Đâu có giặc là ta cứ đi, cùng hơn 30 tiết mục: Độc tấu, hoạt cảnh , đơn ca, tốp ca và ngâm thơ. Một cán bộ đoàn có giọng ngâm khá hay, trình diễn bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao (ngâm theo cách miền Bắc). Để Ban giám khảo dễ so sánh khi chấm điểm, chương trình bố trí luôn tiết mục ngâm bài thơ thứ 2 - Quê Hương của Giang Nam – do một nữ diễn viên không chuyên ngâm theo giọng miền Nam. Cả 2 tiết mục đều được người xem tán thưởng. Tiếng vỗ tay chưa dứt, trên sân khấu xuất hiện ông gìa tóc trắng như cước. Mọi người nhận ra đó là ông Vũ Hồng Hải thư kí công đoàn Mỏ - (cán bộ và công nhân Mỏ thường gọi ông ’’Hải Bạc’’ để phân biệt với 3 cán bộ, kĩ sư có tên Hải cùng làm việc ở khối văn phòng). Ông Hải từ cánh gà tiến ra đón lấy chiếc Micro, đứng vào vị trí trình diễn. Hội trường xì xào bàn tán... Người điều khiển chương trình thoáng bỡ ngỡ vì tình huống này không có trong dự kiến.... hội trường đang ồn ào bỗng im lặng trở lại. Mọi người chưa hiểu vị ’’bộ tứ lãnh đạo’’ sẽ làm gi? Sau ít giây ngần ngừ, ông Hải nói chậm: Các đồng chí vừa nghe 2 bạn trẻ trình bầy 2 bài thơ nói về cuộc tình của đôi trai gái ly biệt trong chiến tranh... Tôi xin góp vui với các bạn một bài thơ khác, cũng có chủ đề tương tự như Núi Đôi và Quê Hương. Bài này tựa đề là Mầu Tím Hoa Sim (ông không nói tên tác giả bài thơ). Cả hội trường lao xao... Ông Hải ngần ngừ giây lát rồi cất tiếng đọc (mà không ngâm như 2 diễn viên vừa trình bầy trước đó). Giọng ông dàn trải, lúc chậm rãi, lúc gấp nhanh... âm vang, như tiếng của ông gìa trong đêm khuya, bên bếp lửa hồng bập bùng, kể cho mọi người nghe về một mối tình bi thảm... Trước mắt người nghe hiện ra khung cảnh làng quê với con sông nước ngầu đỏ phù sa, cuồn cuộn chảy... bãi tha ma và nấm mồ đất chưa kịp khô... Đặc biệt, người nghe mường tượng ra - mỗi người một hình ảnh - về người ’’em gái nhỏ hậu phương’’: Nàng có 3 người anh đi bộ đội Nhưng em nàng có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi Người Vệ quốc quân Yêu nàng như tình yêu em gái... Cứ từng đoạn... từng đoạn, ông Hải thay tác giả Hữu Loan diễn đạt nỗi lòng mình... Gần 1000 người đứng, ngồi chật ních hội trường im lặng lắng nghe. Ho đang theo bước chân của anh Vệ quốc quân với ’’đôi giầy đinh bê bết bùn hành quân’’...từ chiến trường về... bước vào căn nhà... hoang vắng, khói lạnh... chiếc bình cắm hoa ngày cưới giờ dùng làm bình cắm hương, tàn hương lạnh vây quanh... Khi đến đoạn kết thúc, giọng người lính gìa bỗng cao hơn, chuyển thành giọng ngâm: ’’Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm Mẹ gìa chưa khâu’’! Tôi đứng bên cánh gà nhìn thấy trong mắt của ông gìa long lanh ngấn nước. Cả hội trường không một tiếng động dù bài thơ đã hết… Ông Hải cúi chào khán gia rồi châm chạp đi vào, chưa khuất, mọi người như nhận ra sự vô tâm - đột nhiên vỡ òa giữa âm thanh reo hò, vỗ tay, thổi ’’còi môi’’... Ông Hải lại quay người đi ra, cúi chào… Khi bóng ông đã khuất, hội trường vẫn rung lên bởi tiếng vỗ tay… xxx Sáng hôm sau, thứ 2, đầu tuần, Gíam đốc Mỏ họp giao ban, phổ biến công tác trong tuần. Thành phần họp gồm bộ Tứ lãnh đạo: Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn. Bí thư Đoàn Thanh Niên và Chủ tịch Nữ công (Hội phụ nữ công nhân) cùng các phòng ban khối văn phòng. Cuộc họp thời chiến diễn ra ngăn gọn… Gíam độc tuyên bố kết thúc. Mọi người lục tục đứng dậy nhưng chưa ai ra khỏi cửa, Đột nhiên ông Phó giám đốc phụ trách hành chính, học ở Liên Xô về - mới đưọc bổ nhiệm - tiến đến bắt tay ông Hải, nói: Hôm qua bác trình bầy tiết mục đọc thơ qúa hay. Hình thức trình bầy thơ kiểu này ở châu Âu người ta hay dùng. Bài thơ bác lấy ở báo nào thế? Có thể cho tôi chép lại được không? Ông Hải chưa kịp lên tiếng, Trưởng phòng Tổ chưc cán bộ, trả lời thay: Hay thi rât hay nhưng đó là bài thơ bị cấm… - Sao, sao… có gì đâu mà phải cấm - Phó giám đốc Hành chính phản ứng. Ông Hải quay sang Trưởng phòng tổ chức vẻ nghiêm nghị: Ở lứa tuổi ông và tôi, trong kháng chiến chống Pháp, ai mà chẳng biết dăm ba câu, nhiều người thuộc cả bài MTHS... Có văn bản nào cấm đâu. Ngừng lại một chút, như ngẫm nghĩ, mọi người im lặng chờ - ông Hải, tiếp: Mà có gì phải cấm. Anh Vệ quốc quân thương vợ bỏ mình trong một tai nạn khi đang ở chiến trường xa. Trở về, đau buồn trước mất mát, có tâm trạng bi lụy… đó là hành động rất tình, rất người. Điều quan trọng: Anh không phản chiến ‘’B- quay’’ - tiếp tục lên đường chiến đấu - có sao? Mọi người xung quanh cười phá lên với vẻ, tán thưởng. Ông Trưởng phòng tổ chức cũng miễn cưỡng… cười theo. Thời bấy giờ, dám ’’ngang nhiên’’ đọc bài MTHS trước một hội diễn văn nghệ có nghìn người dự, lại đa số là thanh niên trẻ - là chuyện’’động trời’’. Những người yêu thích văn thơ Tiền chiến, tập tễnh viết lách, láng máng biết lai lịch của bài thơ MTHS và tác giả - phải ‘’sởn gai ốc, lạnh sống lưng’’. Khi ra khỏi phòng họp, ông trưởng phòng Lao động tiền lương - cùng giới đầu bạc, cùng hàm Đại úy chuyển ngành - tủm tỉm cười, hỏi ’’kháy’’, ’’trêu’’ ông Hải: Sao ông biết, anh chiến sĩ kia không ’’B - quay’’? Đây là danh từ hồi đó trở thành phổ biến, chỉ thành phần thanh niên ‘’cầu an, sợ chết’’ - trốn lính. Sau khi nhập ngũ, số thanh niên này trên đường hành quân vào Nam, trước khi vượt giới tuyến, họ đào thoát (quay) trở ra, về quê. ’’B… quay’’ là cách nói gọn (4). Ông Hải hiểu ý bạn, cười xoà: Biết chứ! Vì cậu ấy là bạn cùng đơn vị chiến đấu với mình! Mọi người vui vẻ chia tay nhau. Có thể lớp cán bộ quân đội cùng trang lứa, chuyển ngành về nắm giữ các chức vụ chủ chốt của Mỏ nên nể, trọng nhau, không ai nghi ngờ ‘’Tư tưởng biến chất’’ của ngưòi cán bộ quân đội đang đứng ở vị trí lãnh đạo có thứ hạng… Cũng có thể: Đây là khu mỏ, cơ sở sản xuất nằm cách xa Hà Nội – nơi , khu vực ’’Trường Văn - trận Bút’’ - nên sau đó… sau đó… không có vấn đề gì xẩy ra tiếp theo. GHI CHÚ (3). Câu khẩu hiệu hàng đầu của thời đó, được kẻ trên những bức tường, treo khắp nơi trên đất Mỏ nhằm động viên công nhân hăng hái thi đua lao động làm ra nhiều than cho tổ quốc:’’Tổ quốc cần than như con thơ cần sữa mẹ’’ (4) - Việt Nam lúc đó chia làm 3 vùng cơ bản, kí hiệu: A - Miền Bắc. B - Chiến trường miền Trung (có B1 và B2…). C - Chiến trường Nam Bộ. Dân Bắc gọi chung: Đi B là vào Nam). B… Quay là hình dung từ dành cho ’’thanh niên chậm tiến’’, thối chí - thời chống Mĩ. Chàng thanh niên nào rơi vào hành động này coi như ‘’xong đời’’. Khi về đến địa phương cư trú, bị chính quyền tập trung vào cácTrại cải tạo lao động (một loại tù), bị khinh bỉ,.. mãi sau khi kết thúc chiến tranh, Tội B. Quay mới tự nhiên được xóa. Cánh lính trẻ đã đặt vè vui về hiện tượng ’’B. quay’’ – này như sau: Qủang Bình, Hà (tĩnh), Nghệ (an) - Lên Đường ngay! Thanh (hóa), Bắc (thái), Hà (nam) Ninh (Bình) - ‘’Vút’’ ban ngày Hà Nội, Hải Phòng - Tối mới ’’lủi’’ Thái (bình), Nam (định), Hải (hưng) Qủang (ninh) - Hở là ‘’Bay’’! Cứ nghe đoạn vè này, đủ hiểu’’tinh thần phản chiến’’ của thanh niên miền Bắc khá phổ biến, hầu như ở các tỉnh, trừ 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. LXQ 15.3.2012 ------------------  MẦU TÍM HOA SIM Hữu Loan Đây là Bài thơ Mầu Tím Hoa SIM (Bản Hoàn Chỉnh) Lúc sinh thời, nhân một lần vào nam theo lời mời của những người hâm mộ. Ông được mời đến nói chuyện với sinh viên trường Đại học Cần Thơ, Thi sĩ Hữu Loan đã đọc bổ xung đoạn thơ mà các bản in phổ biến từ trước đến nay trên miền Bắc và ngay cả đến hôm naym trên Blog Huỳnh Ngọc Chênh vẫn đang đi trên mạng bản MTHS - thiếu này : Nàng có ba người anh đi bộ đội Nhưng em nàng, có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh. Tôi Người vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới Tôi mặc đồ quân nhân Đôi giầy đinh, vết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh Bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về Cưới xong là đi Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến chinh Mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về Thì thương người vợ chờ, bé bỏng chiều quê Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người em gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Mẹ tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới Thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắm chưa đầy bụi Em ơi giây phút cuối Không được nghe nhau nói Không được nhìn nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa Sim tím Áo nàng mầu tím hoa Sim Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo Ngày xưa... Một chiều rừng mưa Ba người anh trên chiến trường đông Bắc Biết tin em gái mất Trước tin em lấy chồng... Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về Cỏ vàng trên mộ chí. Chiều hành quân qua những đồi Sim Những đồi Sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa Sim tím chiều hoang biền biệt Nhìn áo rách vai, tôi hát trong màu hoa: ''Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu''(**) H.L 1949 (Từ đây trở xuống - đoạn thơ này mới được tác giả bổ xung, công bố ... Tôi chép đüa vào để bạn đọc tham khảo) ‘‘Có ai ví như từ chiều ca dao nào xa xưa ''Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có Mẹ gìa chưa khâu '' Ai hát vô tình hay ác ý với nhau chiều hoang tím có chiều hoang biết. Chiều hoang tím Tím thêm mầu da diết Nhìn áo rách vai Tôi hát trong mầu hoa. ''Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm...'' Màu tím hoa Sim tím tình tang lệ rớm Ráng vàng mạ Và sừng rúc điệu quân hành Vang vọng chập chờn Theo bóng những binh đoàn Biền biệt hành binh Vào thăm thẳm chiều hoang Mầu tím. Tôi ví vọng về đâu ? Tôi với vọng về đâu ? Áo anh nát chỉ dù lâu‘‘. H.L. Nghệ An 1949
Người đi chợ vĩ đại Nhà báo Lê Thọ Bình có lần đã kể về “giai thoại cá khô” của ông Trương Đình Tuyển.Đại khái đó là một vị “thái thú” ở trong một căn phòng tập thể “sực nức mùi cá khô”, quần sắn móng lợn, chân đi dép tông, tự đạp xe đi chợ Quán Lau, cơm với“mấy con cá khô chỏng chơ”, sáng dậy cho vo gạo, cắm phích, cho thêm mấy con cá khô vào thành bửa sáng. Trưa, tối về cắm cho nóng lên thành bữa trưa, tối. “Rất chi là tiện”. Có lẽ “rất chi là rẻ” nữa. Rất nhiều ngợi ca ông Tuyển, một vị quan giản dị, liêm chính- dù ngay những người ngợi ca cũng thấy rằng sống với cá khô, xe đạp, tiện thì tiện thật nhưng như thếkhông thể gọi là cuộc sống- mà thiếu chữ tạm. Tháng 8-2002, sau 2 năm “cá khô và xe đạp”, “Thái thú” Tuyển tái nhiệm chức vụBộ trưởng Bộ Thương mại và là một trong những “tác giả” trong cuộc đua vào WTO của Việt Nam. Hình như cũng chẳng có mấy vị thượng thư, thái thú “đi chợ”. Ngay cả ông Tuyển, khi về lại làm “thượng thư” cũng không còn nghe chuyện ông “đi chợ” nữa. Có lẽcũng chính vì thế, ngay sau khi “trúng số” WTO, thậm chí còn chưa qua giai đoạn“cửa sổ” 5 năm, thuế thu nhập cá nhân đã được đặt ra với tuyên bố “Cải cách cơ cấu nguồn thu ngân sách”, mà cụ thểlà tăng thu, để đảm bảo lộ trình và quan trọng hơn, đểbù cho những loại thuế sẽ phải cắt giảm sau “chiến thắng WTO”. Không ai buộc các bí thư, bộ trưởng phải đi chợ. Nhưng hình như chuyện đi chợ mấy năm nay lại được nói đến quá nhiều. 24-10-2007, tại nghị trường QH, đại biểu QH TP HCM, bà Dao Nhiễu Linh, sau khi giới thiệu “Là một người hằng ngày phải đi chợ” đã phát biểu: "Ở TP HCM, chi phí ăn, mặc, ở thấp nhất của một người cũng 6 triệu đồng, chưa kể người phụ thuộc. Như vậy, mức chịu thuế khởi điểm nên ở mức 6-8 triệu đồng. Dân giàu nước mới mạnh, nếu lấy khởi điểm 4 triệu đồng áp dụng từ năm 2009 thì luật chưa ban hành đã lạc hậu". Trong suốt 1 năm trước đó, dự án luật thuế này đã gây vô số tranh cãi. Đáng chú ý nhất là những quan ngại của một người nước ngoài chưa- từng- đi- chợ- ở- Việt Nam- ông Martin Ram, về việc chúng ta đã “đi quá nhanh” xung quanh việc đưa ra loại thuế, có bản chất như một thứ thuế thân- “đánh vào bất cứ khoản thu nhập nào”. “ Ðây là loại thuế làm tăng nguồn thu nhưng tương đối thấp và khuyến khích việc thoái thác chính thức hoá”-Quyền Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam nói. Đó đây có những phát biểu đại ý do đây là luật thuế liên quan đến quảng đại quần chúng nên sẽ quyết theo ý dân. Thậm chí, một vị phó Tổng cục trưởng còn nhắc đến chuyện trưng cầu dân ý. Nhưng kết quả cuối cùng thì ai cũng biết, ngày 20-11-2007, Quốc hội, gồm đa số những người khôngđi chợ- dù là đại biểu dân cử, đã thông qua luật thuế này với mức khởi điểm chịu thuế là 4 triệu đồng và giảm trừ gia cảnh 1,6 triệu đồng, thấp nhất trong sốcác phương án. Cũng ngày hôm đó, giá gạo tẻ thường có mức 5.600- 6000 đồng/kg. Nỗi lo lạc hậu hóa ra không hề thừa bời lạm phát ngay sau đó đã “cười khẩy”với con số tuyệt đối 4 triệu đồng . Không ai chết vì phải nộp thuế thu nhập cá nhân, khẳng định chắc chắn, nhưng khoảng 1,5% dân số đóng thuế khốn khó hơn nhiều, bởi từ thời điểm Luật được đưa ra QH lầnđầu năm 2006 đến nay, lạm phát đã “đạt” mức cộng dồn 70%. Câu chuyện ngoài chợ sau đó được nhắc tới thêm hai lần. Phó Chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên có lần tâm sự với báo chí: “Vợ tôi cũng hay than thở về chuyện mang 100 ngàn đồng ra chợ không biết mua cái gì. Tôi bảo trong 100 ngàn đồng ấy, bà và mọi người phải tính toán cho phù hợp. ..”. Còn Bộtrưởng Tài chính Vũ Văn Ninh, thì: “Đương nhiên đã lạm phát thì toàn dân phải chịu khó khăn, vì cầm cùng số tiền ấy ra chợ mà giá cao thì mua được ít hàng hơn, ăn uống phải chặt chẽ hơn, tất cả các thứ phải thắt chặt hơn. Trong từng gia đình cũng thế thôi, vợ tôi đi chợ về cũng kêu ghê lắm”. Khổ thân những người nghèo. 100 ngàn đồng, bằng ¼ thu nhập của một hộ nghèo nông thôn, 1/5 thu nhập hộ nghèo thành phố mà “ra chợ không biết mua cái gì”thì không biết người nghèo ra chợ sẽ mua cái gì? Đến vợ các vị thượng thư với mức“lương 8 chấm” còn kêu ca thì dân chúng chắc không còn hơi sức mà khóc. Khổ thân cho những bà nội trợ, ngoài chuyện đương nhiên phải nấu ăn ngon, phải biết làm toán, giờ còn phải biết thắt dây chuối nữa. Đi chợ đại khái vừa là một “bổ đề cơ bản” cần phải chứng minh mà những bà nội trợ xứ ta đáng được tặng Fields. Nhưng đến ngày 20-3 vừa qua, đã xuất hiện một “người đi chợ vĩ đại”: Bà thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai. Trả lời phỏng vấn Tuổi trẻ, bà Mai, người xuất thân từdân ngành thuế, khẳng định việc nâng mức giảm trừ gia cảnh từ 1,6 triệuđồng/tháng lên 2,4 triệu đồng/tháng- như dự thảo Bộ Tài chính dự kiến: “Đã được xem là khoan sức dân rồi”. (Một quan chức, vào đúng ngày 8-3, thậm chí còn “làm thơ” đối với sắc thuế trực thu này rằng: Hy vọng việc sửa đổi luật này góp phần làm nồi cơm của gia đình sẽ đầy hơn, chị em sẽ vui hơn”!!!). Đã thế, vào hôm Bộ Tài chính họp báo công bố dự thảo, dù thừa nhận đã lạc hậu, dự luật sửa đổi này, dự kiến, lại chỉ được áp dụng từ 1-4-2014. Đã thế những con số 6 triệu và 2,4 triệu tuyệt đối này, dự kiến kéo dài 5 năm, ít nhất đến 2018.Đang có một cách “đi chợ” rất khác nhau giữa người dân và các quan chức.Giá gạo tẻ thường trong ngày bà Mai nói chuyện“khoan sức dân” ở mức 12-13 ngàn đồng/kg, gấp 3 lần “giá gạo dự thảo”, gấp 2 lần “giá gạo thông qua”. 6 năm trước, vị đại biểu dân cử, cũng là một phụnữ đi chợ, bà Dao Nhiễu Linh đã nói trước QH mức 6 triệu đồng mỗi tháng chỉ là tối thiểu đối với một người độc thân ở thành phố. Thế mà bây giờ, người nội trợmang hàm thứ trưởng Vũ Thị Mai lại cho rằng con số đó còn là “khoan sức dân”trong thì tương lai 2 năm sau và đằng đẵng 5 năm tiếp sau đó. Không ai biết 2 năm nữa giá gạo sẽ là bao nhiêu. Không ai biết sau đây 5-7 năm, trước sự hung hãn của lạm phát, giá trị của 6 triệu còn mua được bao nhiêu. Chỉ biết bây giờ không ai sống bằng cá khô và xe đạp như Bộ trưởng Tuyển nữa, vì thế, không thể áp “mức sống cá khô” để quy ra mức khởi điểm chịu thuế. Sẽ rất ngoa ngoắt nếu nói năm 2018, mà gần hơn là 2014, với 6 triệu đồng, người dân còn không đủ đảm bảo “cuộc sống cá khô”, thậm chí không còn sức mà đạp xe. Nhưng lại càng không thể buộc người dân phải đóng thuế trong tình trạng “sống cá khô và xe đạp”, không được phép ốm đau, không thăm nom hiếu hỉ, không vui chơi giải trí. Bởi với 6 triệu đồng mỗi tháng cho lao động chính và 2,4 triệu cho “tàu há mồm” ngay thời điểm này cũng chỉ đảm bảo một cuộc sống cá khô tối thiểu, ăn lạm vào tương lai khi không một xu tích lũy và phải đóng thuế trước khi cầm dây chuối sách làn ra chợ. Theo blog Đào Tuấn Sống mà chỉ ăn ngủ thì ngay cả chữ tạm có lẽ cũng còn là xa xi

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012


15.07.2009
Hồng Lê Thọ
Che Guevara, người đàn ông huyền thoại của thế kỷ 20
Trong thập niên 65-75 của thế kỷ trước, một người đàn ông có mái tóc dài,  đội mũ bê-rê đen có tên Che Guevara (tên thật là Ernesto Guevara Lynch de la Serna) được nhắc đến nhiều nhất trong những cuộc biểu tình phản chiến, chống áp bức bóc lột trên toàn thế giới. Huyền thoại về nhà cách mạng người Argentine nầy không bao giờ dứt, từ những ngày phong trào cách mạng ở Châu Mỹ la tinh bùng lên dữ dội, mà cuộc đấu tranh lật đổ chế độ độc tài Batista ở Cuba là điểm khởi đầu.

Anh là hình tượng của tính khí sôi nổi, nhiệt tình nóng bỏng, vô tư và phiêu lưu của tuổi trẻ, là thần tượng của  tình đồng chí cao đẹp khi người ta nhắc đến tình bạn gắn bó giữa hai người Che Guevara và Fidel Catro,  người bác sĩ  cách mạng,  có tấm lòng hy sinh cao cả, tất cả vì người nghèo ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi đầy khốn khó.

            Cuộc đời đầy chất thơ,  lãng mạn của Che Guevara không thể nào kể xiết, mỗi đoạn đời anh đi qua đều để lại những dấu ấn không phai. Từ khi còn là sinh viên Y khoa vào l947,  từ thủ đô Buenos Aires (Argentine), Guevara đã phóng mô tô phân khối lớn  rong ruỗi khắp tổ quốc Argentine của anh và hầu hết các nước châu mỹ la tinh,  chứng kiến  cảnh bần hàn, cuộc sống cùng cực của những người bị bệnh cùi ở San Pablo ven rừng Amazon,  người nghèo xác xơ ở lục địa Châu Phi 1953-55.Tốt nghiệp trường Y, lang thang làm đủ thứ nghề (phóng viên báo chí, chụp ảnh đường phố...),  số kiếp đã khiến  Che  gặp  Fidel Catro (đang sống  lưu vong ) tại Mexico khi đang làm việc ở Bệnh viện Tổng hợp năm 1955,  hai người đã trở thành người bạn chí cốt của nhau và từ đó chàng thanh niên nầy lao vào con đường đấu tranh vũ trang với tên  "Che Guevara" mà bạn chiến đấu của anh gắn cho,  sau khi hoàn thành khóa học quân sự ở trại huấn luyện.

Ngày 25 tháng 11 năm 1956 Che Guevara cùng 82 người khác trong đó có Fidel Castro và những đồng chí trong Tổng tham mưu quân cách mạng Cuba trở về tổ quốc trên con tàu Gramma nổi tiếng. Cuộc chiến tranh du kích bắt đầu từ đó. Lực lượng cách mạng Cuba phát triển lớn mạnh không ngừng,  gần hai năm rưỡi sau,   ngày 1/4/1959 đoàn quân của Che kết hợp nhiều cánh quân khác tiến vào thủ đô La Havana, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh lật đổ chế độ độc tài ở Cuba, xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên đầy thách thức ở Châu Mỹ la tinh, ngay trước mũi của nước Mỹ.

            Không những là một nhà chiến lược tài ba về quân sự, một bác sĩ Da liễu đầy lòng nhân ái mà Che còn là người say mê du lịch và là một tay săn ảnh nghệ thuật không kém giới chuyên nghiệp, chụp bất cứ nơi nào anh đi qua. Bộ sưu tập 211 tấm ảnh nghệ thuật  nầy được người con trai của anh (Camilo Guevara)cho trưng bày tại Hamburg (Đức) vào năm 2003, đã gây sửng sốt cho mọi người trước tài hoa của Che. Sau khi xây dựng gia đình lần thứ hai với Aleida March, một đồng chí cùng hoạt động cách mạng với anh ở Cuba, hai người đã đi nhiều nước trên thế giới(Liên xô, Châu âu, Nhật bản,  Trung quốc, Triều tiên, Indonesia..) để tìm hiểu các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng khuynh tả ở các nơi trước khi trở về Cuba nhận chức Viện trưởng Viện Cải Cách Nông nghiệp,  Bộ trưởng Công Nghiệp, rồi Thống đốc Ngân hàng quốc gia..

Nhưng quyết tâm giải phóng hoàn toàn Châu Mỹ La tinh, Châu Phi ra khỏi gông cùm và bóc lột của Chủ nghĩa đế quốc vẫn không ngừng nung nấu trong lòng Che Guevara,  tháng 3/1963 anh  xin thôi các chức vụ quan trọng trong chính phủ của Fidel Castro để đi Congo, Tiệp Khắc, đầu tháng 11/1966 sang Bolivia xây dựng phong trào đấu tranh du kích vô cùng gian khổ, trên đường di chuyển, không may anh đã bị lính biệt kích của CIA (cơ quan tình báo Mỹ) ám hại và hi sinh tại làng Vallegrande (Bolivia) vào ngày 9/10/1967 lúc vừa tròn 39 tuổi (1928-1967).

Hình tượng của Che Guevera vẫn còn sống mãi trong lòng thanh niên thế giới, biểu tượng của sự phẫn nộ,  sức phản kháng vì hòa bình và hạnh phúc của loài người, vì sự nghiệp giải phóng áp bức và nghèo đói. Chính vì thế, ngay trong những cuộc biểu tinh chống chiến tranh xâm lược Việt Nam trước kia và phản đối chiến tranh ở Irắc ngày nay, người ta vẫn nâng cao di ảnh của Che, hô vang khẩu hiệu đả đảo đế quốc.

"Nếu phải diễn tả hình ảnh tương lai của thế hệ con cháu mà chúng ta muốn chúng trở thành, chúng ta sẽ nói rằng: Hãy giống như Che. Nếu phải bày tỏ lòng mong ước con cháu mình sẽ được giaó dục như thế nào, chúng ta sẽ nói không chút ngần ngại rằng: chúng ta muốn chúng được giáo dục theo tinh thần của Che" (Phát biểu của Fidel Castro trong buổi lễ tưởng niệm Che Guevara ngày 18/10/1967).

 Tháng 3 năm  1968 khi đang lang thang trong phố bán sách cũ gần ga Kanda (Tokyo tôi đã gặp Che trên bài điếu văn của Fidel Castro trên trang nhất tờ báo Granma trong cửa hàng bán sách “đỏ”, đọc ngấu nghiến và bị thu hút vào những dòng chữ hùng biện của nhà lãnh tụ cách mạng Châu Mỹ la tinh. Từ đây, con đường đưa tôi về với cộng đồng yêu nước,  hòa nhập vào cuộc đấu tranh của nhân dân Nhật bản chống chiến tranh của quân đội Mỹ trên đất nước thân yêu đang bùng lên dữ dội. Cửa hàng sách nầy ở đây là địa điểm tôi thường xuyên lui tới sau nầy,  nào Tuyển tập Mao Trạch Đông, Tuyển tập Lê Nin, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản dày cộm bằng chữ việt,  nào sách báo từ miền Bắc, dòng văn học từ vùng giải phóng thỉnh thoảng vẫn được đưa về đây bằng con đường nhập khẩu sách báo qua ngõ Matxcơva hay Bắc kinh. Phải thú thật là tôi khá bàng hoàng trước mọi điều mới lạ mà khi còn ở Sài gòn chưa bao giờ biết đến…và cứ thế anh em ở Nhật bắt đầu chuyền tay nhau những tư liệu quí hiếm,  một mẫu tin trên tờ báo Thống Nhất từ miền Bắc đã trở thành “bản tin” cực hay trên tờ báo “Sứ Mệnh” của phong trào yêu nước ở Nhật bản.

 Cư xá tôi ở là nơi tụ tập những sinh viên Nhật bản đến từ mọi miền,  lúc nào cũng sôi động với biểu ngữ, truyền đơn của các phong trào sinh viên phản chiến,  là “căn cứ” để anh em Việt nam tụ tập in báo,  viết bài sôi nổi. Hình ảnh của Che Guevara đã hòa nhập trong những người thanh niên tiến bộ,  là hiện thân của phong trào tiến bộ thời bấy giờ,  là tiếng hô hưởng ứng “tổ quốc hay là chết” (Patria o muerte) của người dân Cuba mà Che Guevara là một thành viên tích cực nhất trong sự nghiệp làm nên chiến thắng vĩ đại của cách mạng ở Châu Mỹ la tinh…Venceremos  (chiến thắng)

Patria o Muerte !

Venceremos ! 

09-10-2007

Kỷ niệm ngày Che Guevara mất.